Chuyển đến nội dung chính

Tác giả: Biên Tập Viên

Truyện tranh gấp về nhà cổ và cầu đá nối qua phong bì cho phép tới mô hình trường quay cùng cảnh

Chuyển thể truyện thành phim có cần xin phép không?

Một cuốn truyện hay, luôn là nguồn cảm hứng lớn cho điện ảnh. Tuy nhiên, không phải cứ thích là có thể lấy nội dung truyện để dựng thành phim, dù bạn đã thay đổi tên nhân vật hay chỉnh sửa một vài tình tiết. Ranh giới giữa sáng tạo và vi phạm bản quyền đôi khi rất mong manh. Bài viết dưới đây VCD sẽ giúp bạn làm rõ việc chuyển thể truyện thành phim có bắt buộc phải xin phép hay không và những hậu quả gặp phải nếu bỏ qua bước quan trọng này.

Chuyển thể truyện thành phim là gì?

Chuyển thể truyện thành phim là quá trình khai thác nội dung của một tác phẩm văn học (truyện ngắn, tiểu thuyết, truyện dài kỳ, truyện đăng báo, truyện đăng trên nền tảng số…) để xây dựng kịch bản và sản xuất thành tác phẩm điện ảnh, phim truyền hình, phim chiếu mạng dưới hình thức nghe nhìn.

Trong quá trình này, nhà sản xuất có thể giữ nguyên hoặc điều chỉnh một số yếu tố như: tình tiết, tuyến nhân vật, bối cảnh, nhịp truyện, lời thoại… để phù hợp với ngôn ngữ điện ảnh. Tuy nhiên, nền tảng cốt lõi vẫn dựa trên tác phẩm gốc. Về bản chất pháp lý, đây không còn là việc “lấy ý tưởng tham khảo”, mà là sử dụng trực tiếp chất liệu sáng tạo của tác phẩm văn học để tạo ra một tác phẩm mới.

Theo khoản 8 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2022 quy định: “Tác phẩm phái sinh là tác phẩm được sáng tạo trên cơ sở một hoặc nhiều tác phẩm đã có thông qua việc dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, phóng tác, biên soạn, chú giải, tuyển chọn, cải biên, chuyển thể nhạc và các chuyển thể khác.”

Trong đó, “chuyển thể” được nêu rõ là một trong các hình thức tạo ra tác phẩm phái sinh. Như vậy, khi một truyện được dựng thành phim, bộ phim đó được pháp luật xác định là tác phẩm phái sinh của tác phẩm văn học gốc.

Điều này có ý nghĩa rằng bộ phim không phải là một tác phẩm hoàn toàn độc lập, mà phụ thuộc quyền khai thác vào tác phẩm truyện ban đầu.

Chuyển thể truyện thành phim có cần xin phép không?

Chuyển thể truyện thành phim có cần xin phép không?

Về bản chất pháp lý, việc chuyển thể truyện thành phim được xác định là hành vi làm tác phẩm phái sinh từ tác phẩm văn học gốc. Trong khi đó, quyền làm tác phẩm phái sinh lại thuộc quyền tài sản độc quyền của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ 2022:

“1. Quyền tài sản bao gồm:

a) Làm tác phẩm phái sinh;”

Điều này đồng nghĩa với việc bất kỳ cá nhân, tổ chức nào muốn sử dụng nội dung truyện để xây dựng thành kịch bản và sản xuất phim đều phải được sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả trước khi thực hiện.

Sự đồng ý này không thể là thỏa thuận miệng, mà cần được thể hiện bằng hợp đồng bằng văn bản như: hợp đồng chuyển nhượng quyền hoặc hợp đồng sử dụng quyền tác giả. Đây là căn cứ pháp lý chứng minh việc chuyển thể là hợp pháp, đặc biệt quan trọng khi bộ phim được khai thác thương mại, phát hành rộng rãi.

Theo Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ 2022, hành vi làm tác phẩm phái sinh mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả bị xem là xâm phạm quyền tác giả. Vì vậy, dù có thay đổi tên nhân vật, thêm bớt tình tiết hay sáng tạo thêm nội dung mới, nếu bộ phim vẫn dựa trên cốt truyện, hệ thống nhân vật, bối cảnh và tư tưởng chính của truyện gốc thì vẫn được xác định là chuyển thể và vẫn bắt buộc phải xin phép.

Tóm lại, chuyển thể truyện thành phim không chỉ là hoạt động sáng tạo nghệ thuật mà còn là hoạt động khai thác quyền tài sản của tác giả. Do đó, xin phép chủ sở hữu quyền tác giả là yêu cầu bắt buộc trước khi tiến hành chuyển thể.

Xử phạt nếu không xin phép mà tự ý chuyển thể truyện thành phim

Việc tự ý chuyển thể truyện thành phim khi chưa được sự đồng ý của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả không chỉ là sai về đạo đức nghề nghiệp, mà còn là hành vi xâm phạm quyền tác giả theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ.

Như đã phân tích, chuyển thể là hành vi làm tác phẩm phái sinh. Trong khi đó, điểm a khoản 1 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ 2022 khẳng định: quyền làm tác phẩm phái sinh là quyền tài sản độc quyền của chủ sở hữu quyền tác giả. Vì vậy, mọi hành vi tự ý sử dụng truyện để xây dựng thành phim khi chưa được cho phép đều bị xem là vi phạm pháp luật.

Hành vi này có thể bị xử lý trên ba phương diện: hành chính, dân sự và hình sự.

Xử phạt hành chính

Theo Nghị định 17/2023/NĐ-CP, mức phạt có thể lên đến 35 – 50 triệu đồng đối với hành vi làm tác phẩm phái sinh trái phép.

Ngoài ra còn có thể bị buộc: Gỡ bỏ, thu hồi phim; tiêu hủy bản sao vi phạm, bồi thường thiệt hại cho tác giả/chủ sở hữu.

Bồi thường dân sự

Chủ sở hữu có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại về:

  • Thiệt hại vật chất (doanh thu, lợi nhuận bị mất)
  • Thiệt hại tinh thần
  • Chi phí thuê luật sư, chi phí xử lý tranh chấp

Trách nhiệm hình sự

Nếu hành vi vi phạm gây thiệt hại lớn, thu lợi bất chính cao, người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự.

Trên đây là bài viết “Chuyển thể truyện thành phim có cần xin phép không?”. Có thể thấy, chuyển thể không đơn thuần là hoạt động sáng tạo nghệ thuật mà còn là hành vi khai thác quyền tài sản thuộc độc quyền của tác giả/chủ sở hữu quyền tác giả. Vì vậy, việc xin phép bằng văn bản trước khi thực hiện chuyển thể là yêu cầu bắt buộc theo quy định pháp luật.

Trân trọng,

  1. 1. Chuyển thể truyện thành phim được pháp luật xem là hành vi gì theo Luật Sở hữu trí tuệ?

    Theo khoản 8 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ, chuyển thể là một trong các hình thức tạo ra tác phẩm phái sinh. Vì vậy, việc sử dụng nội dung truyện để xây dựng thành phim được pháp luật xác định là hành vi làm tác phẩm phái sinh từ tác phẩm gốc.

  2. 2. Vì sao dù đã thay đổi tên nhân vật, tình tiết thì vẫn phải xin phép khi chuyển thể truyện thành phim?


    Pháp luật không căn cứ vào việc thay đổi nhiều hay ít chi tiết, mà dựa vào việc bộ phim có sử dụng cốt truyện, hệ thống nhân vật, bối cảnh, tư tưởng chính của tác phẩm hay không. Nếu vẫn còn nhận diện được dấu ấn sáng tạo của truyện gốc, thì đó vẫn là chuyển thể và bắt buộc phải xin phép chủ sở hữu quyền tác giả.


Bộ hồ sơ đăng ký xếp trong khay tre gồm tờ khai, bản sao tác phẩm, thẻ chủ thể, phong bì quyền và mẫu phim âm thanh

Đơn đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan gồm những tài liệu gì?

Khi chuẩn bị thủ tục đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan có rất nhiều cá nhân, tổ chức lúng túng vì không nắm rõ thành phần hồ sơ theo quy định pháp luật. Việc chuẩn bị thiếu giấy tờ hoặc kê khai sai thông tin có thể khiến hồ sơ bị trả lại, kéo dài thời gian cấp Giấy chứng nhận. Bài viết dưới đây VCD sẽ giúp bạn hiểu rõ đơn đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan gồm những tài liệu gì.


Quyền tác giả, quyền liên quan là gì?

Theo khoản 2, 3 tại Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2022 quyền tác giả và quyền liên quan được định nghĩa như sau:

Quyền tác giả là quyền hợp pháp của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình trực tiếp sáng tạo hoặc hợp pháp nắm giữ quyền sở hữu.

Quyền liên quan đến quyền tác giả (gọi tắt là quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với các đối tượng phát sinh từ hoạt động khai thác, truyền tải tác phẩm như: cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng và tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa.

Đơn đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan gồm những tài liệu gì?

Đơn đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan gồm những tài liệu gì?

Để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan, cá nhân, tổ chức cần chuẩn bị đầy đủ hồ sơ theo đúng quy định pháp luật. Căn cứ Điều 50 Luật Sở hữu trí tuệ 2022,

hồ sơ đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan bao gồm những tài liệu sau đây:

1. Tờ khai đăng ký


Đây là tài liệu quan trọng nhất. Người nộp đơn cần kê khai đầy đủ, chính xác các thông tin về: tác giả, chủ sở hữu, tên tác phẩm, thời điểm hoàn thành, thời điểm công bố (nếu có) …


Lưu ý: Ghi rõ địa chỉ, số điện thoại, email để cơ quan có thẩm quyền liên hệ khi cần. Nếu tác giả đồng thời là chủ sở hữu thì chỉ cần khai một lần.

2. 02 bản sao tác phẩm đăng ký tác giả hoặc hai bản sao bản định hình đối tượng đăng ký quyền liên quan

Với tác phẩm có đặc thù riêng bản sao có thể là bản in, bản chụp, bản ghi trên thiết bị lưu trữ.

Ví dụ:

  • Đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan cho kịch bản phim: nộp 02 bản in kịch bản.
  • Đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan cho logo thiết kế: nộp 02 bản in màu logo trên giấy A4.
  • Đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan cho bài giảng điện tử: nộp 02 bản lưu trong USB hoặc đĩa CD.

3. Giấy ủy quyền (nếu có)


Trường hợp người nộp hồ sơ không trực tiếp thực hiện mà ủy quyền cho cá nhân/tổ chức khác, cần có giấy ủy quyền hợp lệ, được công chứng hoặc chứng thực.

Ví dụ: Tác giả A ủy quyền cho văn phòng đại diện sở hữu trí tuệ B nộp hồ sơ đăng ký, cần lập giấy ủy quyền hợp pháp giữa hai bên.

4. Tài liệu chứng minh quyền nộp đơn (nếu có)


Áp dụng khi người nộp đơn được hưởng quyền từ người khác thông qua thừa kế, chuyển nhượng hoặc thỏa thuận.

Ví dụ: Nhạc sĩ X chuyển nhượng toàn bộ quyền tác giả ca khúc cho công ty giải trí Y, khi đăng ký cần nộp kèm hợp đồng chuyển nhượng.

5. Văn bản đồng ý của các đồng tác giả (nếu có)


Nếu tác phẩm do nhiều người cùng sáng tạo, cần có văn bản thể hiện sự thống nhất của tất cả đồng tác giả về việc đăng ký.

Ví dụ: Ba họa sĩ cùng thực hiện một bộ tranh minh họa, khi đăng ký phải có văn bản đồng thuận của cả ba người.

6. Văn bản đồng ý của các đồng chủ sở hữu (nếu có)


Trường hợp quyền tác giả thuộc sở hữu chung của nhiều cá nhân/tổ chức, cần có văn bản đồng ý của tất cả các bên.

Ví dụ: Một trường đại học và một doanh nghiệp phối hợp xây dựng bộ tài liệu đào tạo, khi đăng ký cần văn bản thống nhất của cả hai đơn vị.

Lưu ý chung: Toàn bộ giấy tờ trong hồ sơ phải bằng tiếng Việt. Nếu tài liệu bằng tiếng nước ngoài, cần dịch sang tiếng Việt và công chứng theo quy định.

Một số lỗi thường gặp khi chuẩn bị hồ sơ đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan

Trong thực tế, nhiều hồ sơ bị đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan trả lại hoặc yêu cầu bổ sung do người nộp đơn chưa nắm rõ quy định về thành phần và hình thức tài liệu. Một số lỗi phổ biến có thể kể đến như:

  • Kê khai thiếu thông tin trong tờ khai
  • Bản sao tác phẩm không đầy đủ nội dung, thiếu văn bản đồng ý của đồng tác giả hoặc đồng chủ sở hữu
  • Giấy ủy quyền chưa được công chứng/chứng thực, hoặc tài liệu bằng tiếng nước ngoài chưa được dịch sang tiếng Việt theo quy định.

Việc rà soát kỹ hồ sơ trước khi nộp sẽ giúp hạn chế những sai sót này, đảm bảo quá trình đăng ký diễn ra nhanh chóng và thuận lợi.

Trên đây là bài viết “Đơn đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan gồm những tài liệu gì?” Nếu bạn còn vướng mắc trong quá trình chuẩn bị hồ sơ hoặc cần hỗ trợ thực hiện thủ tục đăng ký, nên tham khảo ý kiến từ đơn vị chuyên môn để đảm bảo quyền lợi hợp pháp đối với tác phẩm và đối tượng quyền liên quan của mình.

Trân trọng,

  1. 1. Khi nào cần nộp văn bản đồng ý của đồng tác giả hoặc đồng chủ sở hữu để đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan?

    Khi tác phẩm do nhiều người cùng sáng tạo hoặc quyền tác giả thuộc sở hữu chung của nhiều cá nhân, tổ chức, người nộp đơn cần cung cấp văn bản thể hiện sự đồng thuận của tất cả các bên liên quan

  2. 2. Tài liệu bằng tiếng nước ngoài có được sử dụng trong hồ sơ đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan không?

    Có, nhưng bắt buộc phải được dịch sang tiếng Việt và công chứng/chứng thực theo quy định trước khi nộp kèm hồ sơ đăng ký.


.


Hồ sơ bản quyền bài hát cạnh băng master, tai nghe, ba khay phí và cân đồng

Chi phí đăng ký bản quyền bài hát bao nhiêu?

Trước khi tiến hành đăng ký bản quyền bài hát, vấn đề được nhiều tác giả và đơn vị sản xuất quan tâm hàng đầu chính là mức chi phí cần chi trả. Việc nắm rõ từng khoản phí đăng ký bản quyền bài hát ngay từ đầu sẽ giúp bạn chủ động ngân sách, hạn chế phát sinh không cần thiết và lựa chọn hình thức đăng ký phù hợp, nhằm bảo vệ đầy đủ giá trị pháp lý của tác phẩm âm nhạc. Trong bài viết này, VCD sẽ tổng hợp và phân tích chi tiết các chi phí đăng ký bản quyền bài hát theo quy định hiện hành.

Quy định pháp luật về bản quyền bài hát tại Việt Nam

Trước khi tìm hiểu về chi phí đăng ký hay khai thác bản quyền bài hát, việc nắm rõ hệ thống quy định pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này là vô cùng cần thiết. Theo Luật sở hữu trí tuệ 2022, tác phẩm âm nhạc được bảo hộ quyền tác giả ngay từ thời điểm được sáng tạo và thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phụ thuộc vào việc đã đăng ký hay chưa. Tuy nhiên, việc thực hiện thủ tục đăng ký bản quyền vẫn được khuyến khích, bởi đây là cơ sở pháp lý quan trọng giúp chủ sở hữu chứng minh quyền tác giả khi xảy ra tranh chấp hoặc xâm phạm quyền.

Hiện nay, công tác quản lý và bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan trong lĩnh vực âm nhạc tại Việt Nam do một số cơ quan, tổ chức sau đảm nhiệm:

  • Cục Bản quyền tác giả – trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
  • Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả Âm nhạc Việt Nam (VCPMC)
  • Hiệp hội Quyền sao chép Việt Nam (VIETRRO)

Về thời hạn bảo hộ, pháp luật quy định quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc được bảo vệ suốt cuộc đời tác giả và kéo dài 50 năm sau khi tác giả qua đời. Riêng đối với quyền liên quan như quyền của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, thời hạn bảo hộ là 50 năm kể từ thời điểm tác phẩm hoặc bản ghi được công bố lần đầu.

Chi phí đăng ký bản quyền bài hát bao nhiêu?

Chi phí đăng ký bản quyền bài hát phụ thuộc vào những yếu tố nào?

Thực tế, giá đăng ký bản quyền bài hát không có mức cố định, mà thay đổi tùy theo từng trường hợp cụ thể. Việc hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí sẽ giúp bạn chủ động dự trù ngân sách, đồng thời hạn chế tối đa các khoản phát sinh ngoài ý muốn trong quá trình thực hiện thủ tục.

Yếu tố 1: Loại hình tác phẩm âm nhạc

Mức phí đăng ký bản quyền sẽ khác nhau tùy thuộc vào loại hình tác phẩm mà bạn đăng ký bảo hộ, cụ thể:

  • Bài hát đơn lẻ: Thường có chi phí thấp hơn do hồ sơ đơn giản, quy trình xử lý nhanh.
  • Album (tập hợp nhiều bài hát): Chi phí cao hơn vì số lượng tác phẩm nhiều, thời gian thẩm định và xử lý hồ sơ kéo dài.
  • Nhạc không lời: Trong một số trường hợp có quy trình đánh giá riêng, ảnh hưởng đến mức phí.
  • Tác phẩm âm nhạc có cấu trúc phức tạp hoặc yếu tố nước ngoài: Có thể phải thực hiện thêm thủ tục xác minh, dẫn đến chi phí đăng ký tăng lên.

Yếu tố 2: Số lượng tác giả hoặc chủ sở hữu quyền

Đối với các tác phẩm có từ hai tác giả hoặc chủ sở hữu trở lên, quá trình đăng ký thường phức tạp hơn:

  • Cần xác định rõ tỷ lệ phân chia quyền tác giả giữa các bên.
  • Có thể phát sinh chi phí công chứng, xác nhận thỏa thuận quyền sở hữu.
  • Thời gian xử lý hồ sơ lâu hơn, kéo theo chi phí tăng.

Yếu tố 3: Hình thức nộp hồ sơ đăng ký

Hiện nay, người đăng ký có thể lựa chọn một trong hai hình thức nộp hồ sơ:

  • Nộp trực tiếp tại cơ quan có thẩm quyền: Có thể phát sinh thêm chi phí đi lại, in ấn hồ sơ và thời gian chờ đợi.
  • Đăng ký bản quyền bài hát trực tuyến: Thường tiết kiệm chi phí hơn, nhưng yêu cầu người thực hiện có kiến thức nhất định về công nghệ và quy trình pháp lý.

Yếu tố 4: Đơn vị thực hiện thủ tục đăng ký

Bạn có thể lựa chọn một trong hai phương án:

  • Tự thực hiện thủ tục: Chỉ cần chi trả các khoản lệ phí hành chính theo quy định của Nhà nước.
  • Sử dụng dịch vụ đăng ký bản quyền bài hát: Phát sinh thêm phí dịch vụ, đổi lại là tiết kiệm thời gian, hạn chế sai sót hồ sơ và tăng tỷ lệ được cấp giấy chứng nhận.

Yếu tố 5: Các khoản chi phí phát sinh khác

Ngoài lệ phí đăng ký bản quyền tác giả cơ bản, bạn cũng nên dự trù một số chi phí có thể phát sinh như:

  • Phí công chứng, dịch thuật đối với tài liệu bằng tiếng nước ngoài.
  • Phí chỉnh sửa, bổ sung hồ sơ nếu hồ sơ ban đầu chưa hợp lệ.
  • Chi phí đi lại, in ấn trong quá trình hoàn thiện hồ sơ đăng ký bản quyền bài hát.

Chi phí đăng ký bản quyền bài hát

Theo quy định hiện hành, chi phí đăng ký bản quyền bài hát tại Việt Nam được chia thành hai nhóm chính, bao gồm lệ phí nhà nước và chi phí dịch vụ (nếu sử dụng đơn vị hỗ trợ). Mức phí cụ thể sẽ tùy thuộc vào hình thức đăng ký và nhu cầu của từng cá nhân, tổ chức.

Lệ phí đăng ký bản quyền bài hát theo quy định Nhà nước

Theo biểu phí do cơ quan có thẩm quyền ban hành, lệ phí đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc hiện nay ở mức:

  • 100.000 đồng: Áp dụng cho tác phẩm âm nhạc (bài hát, bản nhạc có hoặc không lời) đăng ký quyền tác giả.
  • 300.000 đồng: Áp dụng trong trường hợp đăng ký tác phẩm phái sinh, sưu tập, tuyển tập nhiều tác phẩm âm nhạc.

Mức lệ phí này là khoản phí hành chính bắt buộc, được nộp trực tiếp cho Cục Bản quyền tác giả khi tiếp nhận hồ sơ và không hoàn lại dù hồ sơ được cấp hay bị từ chối.

Chi phí dịch vụ đăng ký bản quyền bài hát (nếu có)

Trong trường hợp cá nhân, tổ chức ủy quyền cho đơn vị cung cấp dịch vụ đăng ký bản quyền bài hát, chi phí sẽ cao hơn do bao gồm các công việc như tư vấn pháp lý, soạn thảo hồ sơ, đại diện nộp và theo dõi kết quả. Mức phí dịch vụ thường dao động:

  • Từ 1.000.000 – 3.000.000 đồng/bài hát đối với tác phẩm đơn lẻ.
  • Từ 3.000.000 đồng trở lên đối với album, tuyển tập hoặc tác phẩm có nhiều đồng tác giả.

Mức giá cụ thể có thể thay đổi tùy theo độ phức tạp của hồ sơ, số lượng tác phẩm, cũng như yêu cầu về thời gian xử lý.

Các khoản chi phí có thể phát sinh

Ngoài lệ phí đăng ký và phí dịch vụ, người đăng ký cần lưu ý một số chi phí phát sinh khác như:

  • Phí công chứng, chứng thực giấy tờ (nếu có nhiều chủ sở hữu).
  • Phí dịch thuật hồ sơ đối với tác phẩm có yếu tố nước ngoài.
  • Chi phí sửa đổi, bổ sung hồ sơ trong trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ.
  • Chi phí in ấn, đi lại khi nộp hồ sơ trực tiếp.

Trên đây là toàn bộ thông tin về “Chi phí đăng ký bản quyền bài hát” theo quy định hiện hành, bao gồm lệ phí Nhà nước, chi phí dịch vụ (nếu có) và các khoản phát sinh cần lưu ý. Hy vọng những chia sẻ này sẽ giúp tác giả và các đơn vị sản xuất chủ động dự trù ngân sách, lựa chọn hình thức đăng ký phù hợp và sớm hoàn tất thủ tục bảo hộ quyền tác giả, qua đó đảm bảo quyền lợi hợp pháp đối với tác phẩm âm nhạc của mình.

Trân trọng,

Câu hỏi thường gặp

  1. 1. Đăng ký bản quyền bài hát qua dịch vụ có tốn kém hơn nhiều so với tự đăng ký không?

    So với việc tự thực hiện, đăng ký bản quyền bài hát thông qua dịch vụ sẽ phát sinh thêm chi phí tư vấn và xử lý hồ sơ. Tuy nhiên, hình thức này giúp tiết kiệm thời gian, hạn chế sai sót, đặc biệt phù hợp với các tác phẩm có nhiều đồng tác giả hoặc hồ sơ phức tạp.

  2. 2. Ngoài lệ phí đăng ký, còn phát sinh những chi phí nào khi làm bản quyền bài hát?

    Bên cạnh lệ phí đăng ký quyền tác giả, người đăng ký có thể phát sinh thêm chi phí công chứng, dịch thuật hồ sơ, chi phí sửa đổi, bổ sung giấy tờ nếu hồ sơ chưa hợp lệ, cũng như chi phí đi lại và in ấn khi nộp hồ sơ trực tiếp. Việc chuẩn bị hồ sơ đầy đủ, chính xác ngay từ đầu sẽ giúp hạn chế tối đa các khoản phát sinh này.

Bản khắc gỗ cổ trong hộp mở cạnh đồng hồ cát hết, khóa mở và các bản in vải mới

Sử dụng tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ có vi phạm không?

Nhiều người cho rằng khi một tác phẩm đã “hết bản quyền” thì có thể sử dụng tùy ý mà không cần quan tâm đến yếu tố pháp lý nào khác. Tuy nhiên, trên thực tế, việc sử dụng tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ quyền tác giả vẫn phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định theo Luật Sở hữu trí tuệ. Hãy cùng VCD tìm hiểu rõ: Sử dụng tác phẩm đã hết thời gian bảo hộ có vi phạm không trong bài viết dưới đây nhé!

Khi nào tác phẩm hết thời hạn bảo hộ quyền tác giả?

Việc xác định một tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ hay chưa là yếu tố rất quan trọng trước khi bạn quyết định khai thác, sử dụng lại tác phẩm đó. Nếu hiểu sai mốc thời gian này, người sử dụng rất dễ rơi vào tình huống vi phạm quyền tác giả mà không hề hay biết.

Theo Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ 2022, thời hạn bảo hộ quyền tác giả được chia thành quyền nhân thân và quyền tài sản.

Trong đó:

  • Quyền nhân thân (đặt tên tác phẩm, đứng tên tác giả, bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm…) được bảo hộ vô thời hạn.
  • Quyền tài sản (sao chép, phân phối, làm tác phẩm phái sinh, truyền đạt đến công chúng…) chỉ được bảo hộ trong một khoảng thời gian nhất định. Cụ thể, khoản 2 Điều 27 quy định: Quyền tài sản được bảo hộ suốt cuộc đời tác giả và 50 năm tiếp theo năm tác giả qua đời. Thời hạn bảo hộ chấm dứt vào thời điểm 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm chấm dứt thời hạn bảo hộ.

Đối với tác phẩm có đồng tác giả, thời hạn tính theo năm người đồng tác giả cuối cùng qua đời. Khi hết thời hạn này, tác phẩm được xem là thuộc về công chúng và không còn bị giới hạn bởi quyền tài sản của tác giả.

Sử dụng tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ có cần xin phép không?

Khi quyền tài sản đã hết thời hạn bảo hộ, bạn không cần xin phép và không phải trả tiền bản quyền khi thực hiện các hành vi như sau:

  • Sao chép tác phẩm
  • Phân phối, phát hành
  • Chuyển thể, cải biên, phóng tác
  • Sử dụng vào mục đích thương mại

Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là bạn được quyền sử dụng tùy ý. Bởi vì, dù quyền tài sản đã hết, nhưng quyền nhân thân của tác giả vẫn được bảo hộ vĩnh viễn theo khoản 1 Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ 2022, bao gồm:

“Đặt tên cho tác phẩm;
Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm;
Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén, xuyên tạc gây phương hại đến danh dự, uy tín của tác giả.”

Vì vậy, khi sử dụng tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ, bạn vẫn bắt buộc phải:

  • Ghi rõ tên tác giả
  • Không xuyên tạc, làm sai lệch nội dung
  • Không làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của tác giả

Tóm lại, khi tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ quyền tài sản, bạn được quyền khai thác, sử dụng mà không cần xin phép hay trả tiền bản quyền. Tuy nhiên, việc sử dụng đó vẫn phải đặt trong giới hạn tôn trọng quyền nhân thân của tác giả. Nếu xem nhẹ những nguyên tắc này, bạn vẫn có thể đối mặt với rủi ro pháp lý dù tác phẩm đã thuộc phạm vi công cộng.

Sử dụng tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ có vi phạm không?

Những hiểu lầm thường gặp khi sử dụng tác phẩm hết thời hạn bảo hộ

Không ít người cho rằng khi một tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ quyền tác giả thì tác phẩm đó trở thành “tài sản chung”, ai cũng có thể sử dụng, chỉnh sửa, cắt ghép hay biến tấu theo ý mình mà không cần quan tâm đến yếu tố pháp lý. Cách hiểu này chưa đầy đủ và tiềm ẩn nhiều rủi ro vi phạm quyền nhân thân của tác giả.

Trên thực tế, khi hết thời hạn bảo hộ quyền tài sản, tác phẩm được phép khai thác rộng rãi hơn về mặt sử dụng. Tuy nhiên, quyền nhân thân của tác giả vẫn được pháp luật bảo vệ vô thời hạn. Điều này có nghĩa là người sử dụng vẫn phải tôn trọng tên tuổi, uy tín, tinh thần và giá trị nguyên bản của tác phẩm.

Một số tình huống dễ dẫn đến vi phạm có thể kể đến như:

  • Lấy một tác phẩm văn học kinh điển đã hết thời hạn bảo hộ rồi chỉnh sửa nội dung theo hướng làm sai lệch tư tưởng, thông điệp mà tác giả muốn truyền tải.
  • Cắt xén, bóp méo nội dung tác phẩm để phục vụ mục đích cá nhân, làm ảnh hưởng tiêu cực đến danh dự và hình ảnh của tác giả.
  • Tái bản, đăng tải, phát hành lại tác phẩm nhưng không ghi tên tác giả theo đúng quy định.

Những hành vi này dù thực hiện trên tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ quyền tài sản, vẫn có thể bị xem là xâm phạm quyền nhân thân của tác giả theo Luật Sở hữu trí tuệ.

Bên cạnh đó, một điểm thường bị bỏ qua là: các bản dịch, bản cải biên, bản minh họa, bản dàn dựng… được tạo ra từ tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ vẫn có thể đang được bảo hộ quyền tác giả nếu chúng mang tính sáng tạo riêng của người thực hiện.

Ví dụ, tác phẩm Truyện Kiều đã hết thời hạn bảo hộ. Tuy nhiên, các tác phẩm phái sinh từ Truyện Kiều và đang được bảo hộ quyền tác giả độc lập.

  • Bản dịch Truyện Kiều sang tiếng Anh do một dịch giả thực hiện
  • Bản minh họa hiện đại cho Truyện Kiều
  • Bản chuyển thể sân khấu, điện ảnh từ Truyện Kiều

Trong trường hợp này, bạn không được tự ý sử dụng các bản phái sinh đó mà vẫn phải xin phép người đã sáng tạo ra chúng.

Vì vậy, việc sử dụng tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ không đồng nghĩa với việc được toàn quyền sử dụng mọi phiên bản liên quan đến tác phẩm đó. Người dùng cần phân biệt rõ giữa tác phẩm gốc đã thuộc phạm vi công cộng và các tác phẩm phái sinh vẫn đang trong thời hạn bảo hộ để tránh vi phạm pháp luật.

Trên đây là bài viết “Sử dụng tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ có vi phạm không?”. Hiểu đúng thời hạn bảo hộ và phạm vi được phép sử dụng sẽ giúp bạn khai thác tác phẩm một cách hợp pháp, an toàn và tránh rủi ro pháp lý không đáng có.

Trân trọng,

Câu hỏi thường gặp

  1. 1. Vì sao vẫn có thể vi phạm dù tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ?

    Vì quyền nhân thân của tác giả được bảo hộ vô thời hạn. Nếu bạn không ghi tên tác giả, cắt xén, xuyên tạc nội dung làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của tác giả thì vẫn có thể bị xem là xâm phạm quyền tác giả.

  2. 2. Bản dịch, bản cải biên từ tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ có được dùng tự do không?

    Không hẳn. Những bản dịch, minh họa, cải biên… là tác phẩm phái sinh và có thể đang được bảo hộ độc lập. Khi sử dụng các bản này, bạn vẫn phải xin phép người đã tạo ra chúng.



Mẫu dệt gốc nối với bản phác, mẫu thử, vật liệu, âm bản và hồ sơ niêm phong cạnh bản sao tranh chấp

Làm thế nào để chứng minh quyền tác giả khi có tranh chấp?

Khi xảy ra tranh chấp quyền tác giả, câu hỏi quan trọng nhất không còn là tác phẩm có được bảo hộ hay không, mà là ai mới thực sự là tác giả và chủ sở hữu hợp pháp. Trong khi pháp luật quy định quyền tác giả phát sinh tự động ngay khi tác phẩm được hình thành, việc chứng minh quyền đó trước cơ quan có thẩm quyền lại đòi hỏi những căn cứ và chứng cứ rất cụ thể. Vậy làm thế nào để chứng minh quyền tác giả khi có tranh chấp? Bài viết dưới đây VCD sẽ giúp bạn tìm hiểu.

Quyền tác giả là gì?

Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình trực tiếp sáng tạo ra hoặc hợp pháp sở hữu. Đây là một trong những quyền sở hữu trí tuệ quan trọng, bảo vệ thành quả lao động trí tuệ trong các lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học.

Theo Khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2022, quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản phát sinh đối với tác phẩm. Trong đó:

  • Quyền nhân thân gắn liền với danh dự, uy tín của tác giả như: quyền đặt tên tác phẩm, đứng tên trên tác phẩm, công bố tác phẩm, bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm.

  • Quyền tài sản cho phép tác giả hoặc chủ sở hữu khai thác giá trị kinh tế từ tác phẩm như: sao chép, phân phối, truyền đạt đến công chúng, cho thuê, làm tác phẩm phái sinh…

Điểm đặc biệt trong quy định của pháp luật Việt Nam là quyền tác giả không phát sinh từ thủ tục đăng ký, mà phát sinh ngay tại thời điểm tác phẩm được hình thành.

Căn cứ tại Khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ: “Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.”

Quy định này khẳng định một nguyên tắc rất quan trọng rằng chỉ cần bạn sáng tạo ra tác phẩm và thể hiện nó ra bên ngoài (viết ra, vẽ ra, thiết kế, ghi âm, ghi hình…), bạn đã mặc nhiên có quyền tác giả. Không cần xin phép, không cần đăng ký, không cần công bố.

Tuy nhiên, chính vì quyền tác giả phát sinh “tự động” như vậy nên khi xảy ra tranh chấp, câu hỏi quan trọng nhất không còn là tác phẩm có được bảo hộ hay không, mà là: Ai mới thực sự là người đã sáng tạo ra tác phẩm đó? Ai là chủ sở hữu hợp pháp?. Lúc này, các quy định pháp luật chỉ là nền tảng. Yếu tố mang tính quyết định lại nằm ở chứng cứ thực tế chứng minh quá trình hình thành tác phẩm, thời điểm tạo lập và mối liên hệ giữa tác giả với tác phẩm.

Nói cách khác, pháp luật bảo hộ quyền tác giả rất sớm, nhưng để bảo vệ được quyền đó khi có tranh chấp, bạn phải chứng minh được quyền của mình bằng căn cứ cụ thể, rõ ràng và hợp pháp.

Làm thế nào để chứng minh quyền tác giả khi có tranh chấp?

Làm thế nào để chứng minh quyền tác giả khi có tranh chấp?

Khi có tranh chấp về quyền tác giả, cơ quan có thẩm quyền (Tòa án, Thanh tra, Cục Bản quyền tác giả…) sẽ căn cứ vào chứng cứ để xác định:

  • Ai là người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm?

  • Ai là chủ sở hữu hợp pháp?

  • Tác phẩm được hình thành vào thời điểm nào?

  • Có hành vi sao chép, xâm phạm hay không?

Tùy vào việc đã đăng ký hay chưa đăng ký quyền tác giả mà cách chứng minh sẽ khác nhau.

Trường hợp 1: Đã có Giấy chứng nhận quyền tác giả

Đây là trường hợp dễ chứng minh nhất khi có tranh chấp quyền tác giả đối với tác phẩm.

Theo Khoản 3 Điều 49 Luật Sở hữu trí tuệ: “Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan là chứng cứ chứng minh quyền tác giả, quyền liên quan thuộc về người được cấp giấy chứng nhận, trừ trường hợp có chứng cứ ngược lại.”

Điều này có nghĩa:

  • Người có Giấy chứng nhận được mặc nhiên công nhận là tác giả/chủ sở hữu.

  • Bên còn lại nếu muốn phủ nhận phải đưa ra chứng cứ ngược lại rất mạnh.

  • Tòa án và cơ quan chức năng ưu tiên căn cứ vào Giấy chứng nhận này.

Trong thực tế tranh chấp, Giấy chứng nhận quyền tác giả gần như là “lá chắn pháp lý” cực kỳ quan trọng.

Ngoài Giấy chứng nhận, bạn có thể cung cấp thêm các tài liệu sau khi có tranh chấp quyền tác giả:

  • Bản thảo gốc

  • File thiết kế, file soạn thảo có lịch sử tạo lập

  • Email trao đổi, hợp đồng giao việc sáng tạo

  • Hóa đơn, chứng từ thể hiện quá trình hình thành tác phẩm

Những tài liệu này không chỉ mang tính bổ trợ, mà còn có vai trò củng cố mạnh mẽ giá trị chứng minh trong hồ sơ khi xảy ra tranh chấp quyền tác giả. Trên thực tế, cơ quan có thẩm quyền không chỉ căn cứ vào một loại giấy tờ duy nhất, mà sẽ đánh giá tổng thể hệ thống chứng cứ để xác định ai là người thực sự sáng tạo ra tác phẩm và vào thời điểm nào.

Trường hợp 2: Chưa có Giấy chứng nhận quyền tác giả

Không ít người cho rằng nếu chưa đăng ký quyền tác giả thì tác phẩm sẽ không được pháp luật bảo hộ. Đây là một cách hiểu chưa chính xác.

Theo Khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ 2022, quyền tác giả phát sinh ngay từ thời điểm tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phụ thuộc vào việc đã đăng ký hay chưa. Điều này có nghĩa là dù bạn chưa thực hiện thủ tục đăng ký, quyền tác giả của bạn vẫn được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Tuy nhiên, khi xảy ra tranh chấp, bạn sẽ phải tự mình đưa ra các chứng cứ cụ thể để chứng minh mình là tác giả hoặc chủ sở hữu hợp pháp của tác phẩm, thay vì được mặc nhiên thừa nhận như trường hợp đã có Giấy chứng nhận.

Các loại chứng cứ quan trọng bao gồm:

Bản thảo, bản gốc của tác phẩm

Bản thảo và file gốc là một trong những chứng cứ có giá trị nhất khi cần chứng minh quyền tác giả.

  • File Word, PSD, AI, CAD, bản viết tay…

  • File có lịch sử chỉnh sửa
  • Phiên bản lưu trên Google Drive, Email, Dropbox có thời gian lưu trữ

Đây là những tài liệu tạo nên giá trị chứng minh rất cao, bởi việc giả lập cả một quá trình chỉnh sửa, lưu trữ, trao đổi trong thời gian dài là điều gần như không thể thực hiện một cách hợp lý và thuyết phục.

Dữ liệu thời gian tạo tác phẩm

Bên cạnh bản thảo hay file gốc, các dữ liệu thể hiện thời điểm hình thành và chỉnh sửa tác phẩm cũng có giá trị chứng minh rất cao trong tranh chấp quyền tác giả.

  • Thời điểm lưu file

  • Lịch sử chỉnh sửa

  • Email gửi bản nháp

  • Tin nhắn trao đổi về nội dung tác phẩm

Các mốc thời gian này giúp chứng minh bạn là người tạo ra tác phẩm trước. Đây là cơ sở quan trọng để cơ quan có thẩm quyền xác định trình tự hình thành tác phẩm và vai trò thực sự của bạn trong quá trình sáng tạo.

Nhân chứng

Trong nhiều trường hợp, lời xác nhận từ những người có liên quan trực tiếp đến quá trình hình thành tác phẩm cũng là một nguồn chứng cứ quan trọng. Nhân chứng có thể là:

  • Người cùng làm việc

  • Người được bạn gửi bản thảo xem trước

  • Người tham gia quá trình sáng tạo

Khi cần thiết, nhân chứng có thể được cơ quan có thẩm quyền triệu tập để làm rõ quá trình hình thành tác phẩm và xác nhận vai trò của bạn trong quá trình sáng tạo.

Hợp đồng, giao việc, trao đổi công việc

Nếu tác phẩm được tạo ra theo đơn đặt hàng, theo hợp đồng, bạn có thể cung cấp:

  • Hợp đồng thuê sáng tạo

  • Thỏa thuận công việc

  • Email, tin nhắn phân công nội dung

Theo Điều 39 Luật Sở hữu trí tuệ 2022, chủ sở hữu quyền tác giả có thể là tổ chức, cá nhân nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ các quyền đối với tác phẩm. Quy định này mở ra một nguyên tắc quan trọng: Người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm chưa chắc đã là chủ sở hữu quyền tài sản đối với tác phẩm đó.

Ví dụ:

  • Nhân viên thiết kế sáng tạo logo theo yêu cầu của công ty

  • Content writer viết bài theo nhiệm vụ được giao

  • Designer thiết kế bộ nhận diện thương hiệu theo hợp đồng thuê ngoài

  • Nhiếp ảnh gia chụp ảnh sản phẩm theo hợp đồng dịch vụ

Do đó, họ là người trực tiếp tạo ra tác phẩm, quyền tài sản đối với tác phẩm lại thuộc về tổ chức, cá nhân giao việc, trừ khi các bên có thỏa thuận khác. Khi xảy ra tranh chấp, các tài liệu như hợp đồng, văn bản giao việc, email hoặc tin nhắn trao đổi công việc sẽ là căn cứ quan trọng để làm rõ mối quan hệ pháp lý giữa các bên và xác định ai là chủ sở hữu hợp pháp đối với tác phẩm. 

Công bố tác phẩm trước đó

Việc bạn đã từng công bố tác phẩm ra công chúng trước thời điểm xảy ra tranh chấp cũng là một căn cứ có giá trị trong quá trình chứng minh quyền tác giả. Hình thức công bố có thể rất đa dạng như:

  • Đăng tải bài viết, hình ảnh, thiết kế trên website, fanpage, nền tảng mạng xã hội

  • Xuất bản tác phẩm dưới dạng sách, tạp chí, ấn phẩm in ấn

  • Đăng tải trên các nền tảng số có cơ chế ghi nhận thời gian đăng tải, lưu trữ dữ liệu

Những điều này giúp xác lập mốc thời gian công khai đầu tiên của tác phẩm trước công chúng. Khi thời điểm công bố trùng khớp với dữ liệu tạo lập tác phẩm, đây sẽ là cơ sở quan trọng để chứng minh rằng bạn đã sở hữu và kiểm soát tác phẩm từ rất sớm, trước khi bên còn lại có bất kỳ hành vi sử dụng hay sao chép nào.

Trên đây là bài viết “Làm thế nào để chứng minh quyền tác giả khi có tranh chấp?”. Hy vọng những phân tích cụ thể trong bài đã giúp bạn hiểu rõ các căn cứ pháp lý cũng như cách thu thập chứng cứ cần thiết để bảo vệ quyền lợi của mình khi xảy ra tranh chấp quyền tác giả.

Trân trọng,

Câu hỏi thường gặp

  1. 1. Quyền tác giả có cần đăng ký thì mới được pháp luật bảo hộ không?

    Không. Theo Khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền tác giả phát sinh ngay khi tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phụ thuộc vào việc đã đăng ký hay chưa. Tuy nhiên, đăng ký quyền tác giả giúp việc chứng minh quyền lợi khi có tranh chấp trở nên dễ dàng hơn.

  2. 2. Nếu chưa đăng ký quyền tác giả thì chứng minh bằng cách nào?

    Bạn có thể sử dụng các chứng cứ như bản thảo gốc, file có lịch sử chỉnh sửa, dữ liệu lưu trữ trên email hoặc nền tảng đám mây, tin nhắn trao đổi nội dung, nhân chứng, hợp đồng giao việc… để chứng minh quá trình hình thành và thời điểm tạo ra tác phẩm.



Tấm thảm nguyên bản bên các bản sao bị tháo thẻ tác giả, đổi màu và xé rách

Hành vi nào bị coi là xâm phạm quyền nhân thân của tác giả?

Quyền nhân thân của tác giả là nhóm quyền đặc biệt quan trọng, gắn liền với danh dự, uy tín và dấu ấn sáng tạo của người tạo ra tác phẩm. Tuy nhiên, trong quá trình khai thác và sử dụng tác phẩm, không ít cá nhân, tổ chức đã vô tình hoặc cố ý thực hiện những hành vi xâm phạm các quyền này mà không nhận thức được rủi ro pháp lý. Vậy hành vi nào bị coi là xâm phạm quyền nhân thân của tác giả theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành?

Quyền nhân thân của tác giả bao gồm những quyền nào?

Theo Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ 2022, quyền nhân thân của tác giả bao gồm 04 quyền cơ bản:

“1. Đặt tên cho tác phẩm.

Tác giả có quyền chuyển quyền sử dụng quyền đặt tên tác phẩm cho tổ chức, cá nhân nhận chuyển giao quyền tài sản quy định tại khoản 1 Điều 20 của Luật này;

2. Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng;

3. Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;

4. Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm không cho người khác xuyên tạc; không cho người khác sửa đổi, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.”

Những quyền nêu trên là các quyền gắn bó mật thiết với cá nhân tác giả và về nguyên tắc không thể chuyển nhượng cho người khác. Tuy nhiên, riêng quyền công bố tác phẩm có thể được tác giả thỏa thuận chuyển giao cho tổ chức, cá nhân khác theo quy định của pháp luật.

Hành vi nào bị coi là xâm phạm quyền nhân thân của tác giả

Hành vi nào bị coi là xâm phạm quyền nhân thân của tác giả?

Quyền nhân thân là nhóm quyền gắn liền trực tiếp với danh dự, uy tín và dấu ấn sáng tạo của tác giả. Vì vậy, bất kỳ hành vi nào tác động trái phép đến tên gọi tác phẩm, tên tuổi tác giả, quyền công bố hoặc sự toàn vẹn nội dung tác phẩm đều có thể bị xem là xâm phạm quyền nhân thân theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ.

Dưới đây là những nhóm hành vi vi phạm điển hình thường gặp trong thực tế:

Hành vi xâm phạm quyền đặt tên tác phẩm

Trước hết, tác giả là người có quyền tuyệt đối trong việc đặt tên cho tác phẩm của mình. Tên tác phẩm không chỉ mang ý nghĩa nhận diện mà còn thể hiện ý tưởng, thông điệp mà tác giả muốn truyền tải.

Do đó, mọi hành vi tự ý thay đổi tên tác phẩm, sử dụng tên khác khi khai thác tác phẩm mà không được sự đồng ý của tác giả đều bị coi là vi phạm.

Ví dụ:

  • Tự ý đổi tên sách, bài viết, bài hát, tranh ảnh khi đăng tải lại

  • Sử dụng tác phẩm nhưng ghi tên khác nhằm phục vụ mục đích thương mại

  • Cố ý đặt lại tên gây hiểu nhầm về nội dung, ý nghĩa ban đầu của tác phẩm

Dù thường bị xem nhẹ, nhưng đây là hành vi xâm phạm trực tiếp quyền nhân thân đầu tiên của tác giả.

Hành vi không ghi tên hoặc ghi sai tên tác giả

Đây là dạng vi phạm quyền nhân thân xảy ra phổ biến nhất hiện nay, đặc biệt trên môi trường internet.

Ví dụ:

  • Đăng lại bài viết, hình ảnh, video nhưng không ghi tên tác giả

  • Cố tình xóa watermark, chữ ký, logo tác giả trên tác phẩm

  • Ghi tên người khác là tác giả của tác phẩm

  • Sử dụng tác phẩm trong quảng cáo, truyền thông nhưng không nêu tên tác giả

Theo quy định pháp luật, việc ghi tên tác giả là nghĩa vụ bắt buộc khi sử dụng tác phẩm, dù có xin phép hay đã trả tiền sử dụng tác phẩm.

Hành vi công bố tác phẩm khi chưa được sự cho phép của tác giả

Tác giả có quyền quyết định thời điểm, hình thức công bố tác phẩm. Nếu chưa được tác giả cho phép mà đã tự ý đăng tải, phát hành, chia sẻ tác phẩm ra công chúng thì đây là hành vi xâm phạm quyền nhân thân nghiêm trọng.

Ví dụ:

  • Đăng bản thảo sách, tài liệu nghiên cứu khi tác giả chưa cho phép

  • Phát tán bản demo bài hát, bản thiết kế khi chưa được công bố chính thức

  • Nhân viên tự ý đưa sản phẩm sáng tạo nội bộ ra ngoài

Quyền này nhằm bảo vệ quyền kiểm soát của tác giả đối với “đứa con tinh thần” của mình.

Hành vi sửa chữa, cắt xén, xuyên tạc tác phẩm

Trong các hành vi xâm phạm quyền nhân thân, việc làm sai lệch nội dung tác phẩm được đánh giá là nghiêm trọng nhất. Pháp luật cho phép tác giả bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho phép bất kỳ ai tự ý chỉnh sửa gây ảnh hưởng đến danh dự và uy tín của mình.

Ví dụ:

  • Cắt ghép nội dung bài viết làm sai lệch quan điểm của tác giả

  • Chỉnh sửa hình ảnh, thiết kế khiến thông điệp bị hiểu sai

  • Biên tập lại tác phẩm theo hướng phản cảm, lệch lạc so với bản gốc

  • Đặt tác phẩm vào bối cảnh tiêu cực, trái với tinh thần ban đầu

Đây là hành vi rất dễ xảy ra trong hoạt động truyền thông, marketing, báo chí nếu không cẩn trọng.

Xóa thông tin quản lý quyền, che giấu nguồn gốc tác phẩm

Ngoài các hành vi nêu trên, việc xóa watermark, metadata, thông tin tác giả trên file thiết kế, hình ảnh, video… cũng bị coi là xâm phạm quyền nhân thân.

Hành vi này thường nhằm mục đích che giấu nguồn gốc tác phẩm để sử dụng trái phép mà không bị phát hiện.

Hậu quả pháp lý khi xâm phạm quyền nhân thân của tác giả

Khi xâm phạm quyền nhân thân, cá nhân hoặc tổ chức vi phạm có thể phải đối mặt với nhiều hậu quả pháp lý nghiêm trọng, tùy theo tính chất và mức độ vi phạm, bao gồm:

  • Xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định 131/2013/NĐ-CP

  • Buộc xin lỗi, cải chính công khai

  • Buộc bồi thường thiệt hại về tinh thần cho tác giả

  • Gỡ bỏ, thu hồi, tiêu hủy ấn phẩm vi phạm

  • Bị khởi kiện dân sự tại Tòa án

Trong nhiều trường hợp, thiệt hại về danh dự, uy tín còn lớn hơn rất nhiều so với thiệt hại vật chất.

Trên đây là bài viết “Hành vi nào bị coi là xâm phạm quyền nhân thân của tác giả?”. Hy vọng bạn hiểu rõ được bảo vệ quyền nhân thân cũng chính là bảo vệ nền tảng đạo đức và pháp lý trong hoạt động sáng tạo, sử dụng tác phẩm hiện nay.

Trân trọng,

Câu hỏi thường gặp

  1. 1. Quyền nhân thân của tác giả có thể chuyển nhượng cho người khác hay không?

    Trừ quyền công bố tác phẩm có thể được chuyển giao theo thỏa thuận, các quyền nhân thân còn lại như đặt tên tác phẩm, đứng tên tác giả và bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm đều gắn liền với cá nhân tác giả và không thể chuyển nhượng cho người khác.

  2. 2. Đăng tải tác phẩm lên mạng khi chưa được sự cho phép của tác giả có phải là hành vi xâm phạm quyền nhân thân không?

    Có. Tác giả có quyền quyết định thời điểm và hình thức công bố tác phẩm. Việc tự ý đăng tải, phát hành khi chưa được phép là hành vi xâm phạm nghiêm trọng quyền nhân thân của tác giả.

Bản khắc và bản in bị kéo giữa thẻ tác giả, thẻ chủ sở hữu, chìa khóa và tiền nhuận bút

Nguyên nhân phát sinh tranh chấp giữa tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả

Trong quá trình khai thác và sử dụng tác phẩm, tranh chấp giữa tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả thường phát sinh do sự khác biệt trong cách hiểu và áp dụng các quy định của pháp luật về quyền tác giả. Đặc biệt, đối với các tác phẩm được sáng tạo trong quan hệ lao động, theo nhiệm vụ hoặc theo hợp đồng thuê sáng tác, việc không xác định rõ chủ thể quyền ngay từ đầu là nguyên nhân phổ biến dẫn đến mâu thuẫn, khiếu kiện giữa các bên.

Phân biệt tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả

Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2022, tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm bằng lao động trí tuệ của mình. Tác giả luôn là cá nhân và là chủ thể gắn liền với quá trình hình thành tác phẩm. Dù quyền tài sản đối với tác phẩm có thể được chuyển giao, tư cách tác giả vẫn không thay đổi và không thể bị thay thế bởi tổ chức hay cá nhân khác.

Luật Sở hữu trí tuệ quy định quyền của tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản. Phần lớn các quyền nhân thân được quy định tại Điều 19 mang tính gắn bó mật thiết với danh dự, uy tín của tác giả nên không được chuyển giao cho chủ thể khác, trừ quyền công bố tác phẩm theo quy định của pháp luật.

Khác với tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức hoặc cá nhân nắm giữ quyền tài sản đối với tác phẩm. Theo Điều 36 Luật Sở hữu trí tuệ, chủ sở hữu quyền tác giả có thể là chính tác giả, tổ chức hoặc cá nhân giao nhiệm vụ sáng tạo, bên thuê sáng tác hoặc bên nhận chuyển nhượng quyền tác giả thông qua hợp đồng, thừa kế hoặc các căn cứ hợp pháp khác. Chủ sở hữu quyền tác giả có quyền khai thác giá trị kinh tế của tác phẩm thông qua các quyền tài sản được quy định tại Điều 20 của Luật này.

Nguyên nhân phát sinh tranh chấp giữa tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả

Nguyên nhân phát sinh tranh chấp giữa tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả

Tranh chấp giữa tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả thường không xuất phát từ một nguyên nhân đơn lẻ mà hình thành từ nhiều yếu tố khác nhau trong quá trình sáng tạo, khai thác và đăng ký quyền tác giả. Trong đó,có một số nguyên nhân điển hình sau đây:

Thứ nhất, tranh chấp phát sinh từ việc không có hoặc không quy định rõ về quyền tác giả trong quan hệ lao động hoặc hợp đồng thuê sáng tác.

Theo quy định tại Điều 39 Luật Sở hữu trí tuệ, đối với tác phẩm được sáng tạo theo nhiệm vụ hoặc theo hợp đồng, chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ hoặc giao kết hợp đồng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng, nhiều hợp đồng lao động hoặc hợp đồng thuê sáng tác không quy định hoặc quy định chưa cụ thể về quyền tác giả đối với tác phẩm được tạo ra. Sự thiếu rõ ràng này dẫn đến cách hiểu và cách áp dụng khác nhau giữa các bên khi tác phẩm phát sinh giá trị khai thác, từ đó làm phát sinh tranh chấp.

Thứ hai, tranh chấp phát sinh do sự nhầm lẫn giữa quyền nhân thân của tác giả và quyền tài sản của chủ sở hữu quyền tác giả.

Mặc dù quyền tài sản đối với tác phẩm có thể được chuyển giao cho chủ sở hữu quyền tác giả, nhưng theo quy định tại Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ, tác giả vẫn được bảo lưu các quyền nhân thân, bao gồm quyền đứng tên trên tác phẩm và quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm. Trong nhiều trường hợp, chủ sở hữu quyền tác giả hiểu chưa đúng phạm vi quyền của mình, cho rằng việc nắm giữ quyền tài sản đồng nghĩa với quyền quyết định toàn bộ các vấn đề liên quan đến tác phẩm, dẫn đến các hành vi xâm phạm quyền nhân thân của tác giả và phát sinh tranh chấp.

Thứ ba, việc đăng ký quyền tác giả không đúng chủ thể cũng là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tranh chấp.

Theo quy định tại Điều 49 Luật Sở hữu trí tuệ, việc đăng ký quyền tác giả không phải là điều kiện làm phát sinh quyền, nhưng Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả có giá trị chứng cứ quan trọng trong trường hợp xảy ra tranh chấp. Trên thực tế, không ít trường hợp hồ sơ đăng ký kê khai thông tin tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả không phù hợp với thực tế sáng tạo hoặc không đúng với thỏa thuận giữa các bên, dẫn đến khiếu nại, yêu cầu sửa đổi hoặc hủy bỏ Giấy chứng nhận đã được cấp.

Thứ tư, tranh chấp phát sinh do việc chuyển giao quyền tác giả không đúng hoặc không đầy đủ theo quy định của pháp luật.

Theo các Điều 45 và 46 Luật Sở hữu trí tuệ, việc chuyển nhượng quyền tác giả hoặc chuyển quyền sử dụng quyền tác giả phải được lập thành hợp đồng bằng văn bản và xác định rõ phạm vi, thời hạn, hình thức khai thác quyền. Trường hợp hợp đồng chuyển giao không quy định rõ nội dung quyền được chuyển giao hoặc các bên không hiểu đúng bản chất của việc chuyển giao quyền, tranh chấp có thể phát sinh trong quá trình khai thác, sử dụng tác phẩm.

Những lưu ý khi đăng ký quyền tác giả để tránh phát sinh tranh chấp giữa tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả

Thứ nhất, xác định rõ tư cách pháp lý của từng chủ thể trước khi nộp hồ sơ đăng ký: ai là tác giả, ai là chủ sở hữu quyền tác giả, căn cứ xác lập quyền là gì (tự sáng tạo, hợp đồng lao động, hợp đồng thuê sáng tác, chuyển giao quyền…).

Thứ hai, chuẩn bị đầy đủ hồ sơ chứng minh quyền sở hữu, đặc biệt là các văn bản như hợp đồng sáng tạo, quyết định giao nhiệm vụ, văn bản chuyển nhượng quyền tác giả hoặc cam kết giữa các bên.

Thứ ba, kê khai chính xác và trung thực thông tin trong tờ khai đăng ký quyền tác giả, bảo đảm thống nhất với nội dung các tài liệu đính kèm và thực tế sáng tạo tác phẩm.

Thứ tư, nhận thức rõ giới hạn quyền của chủ sở hữu quyền tác giả, tránh việc thỏa thuận hoặc thực hiện các hành vi xâm phạm quyền nhân thân của tác giả, kể cả trong trường hợp chủ sở hữu là tổ chức, doanh nghiệp.

Trên đây là bài viết “Nguyên nhân phát sinh tranh chấp giữa tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả” mà VCD gửi đến bạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Câu hỏi thường gặp

  1. Câu hỏi 1: Tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả có luôn là một người không?

    Không. Theo Luật Sở hữu trí tuệ, tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm, còn chủ sở hữu quyền tác giả là chủ thể nắm giữ quyền tài sản đối với tác phẩm. Trong nhiều trường hợp, đặc biệt là tác phẩm được tạo ra theo nhiệm vụ hoặc theo hợp đồng, tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả là hai chủ thể pháp lý khác nhau.

  2. Câu hỏi 2: Vì sao tranh chấp giữa tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả thường phát sinh?

    Tranh chấp thường phát sinh do không có hoặc không rõ thỏa thuận về quyền tác giả ngay từ đầu, nhầm lẫn giữa quyền nhân thân của tác giả và quyền tài sản của chủ sở hữu quyền tác giả, hoặc kê khai không đúng chủ thể khi đăng ký quyền tác giả.

Nhạc cụ bị chặn sau dây đỏ cùng hộp giấy phép khóa và khay tiền tác quyền còn thiếu

Chưa thanh toán tiền tác quyền thì buổi biểu diễn có được phép tổ chức không?

Việc sử dụng tác phẩm âm nhạc trong các chương trình biểu diễn kéo theo nghĩa vụ tôn trọng và thực hiện đầy đủ quyền tác giả. Tuy nhiên, trên thực tế, không ít trường hợp buổi biểu diễn được tổ chức khi nghĩa vụ thanh toán tiền tác quyền chưa được hoàn tất. Vậy, câu hỏi đặt ra rằng: Chưa thanh toán tiền tác quyền thì buổi biểu diễn có được phép tổ chức không? Bài viết của VCD dưới đây sẽ giúp bạn.

Tác quyền là gì và nghĩa vụ thanh toán tiền tác quyền khi biểu diễn?

Theo Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2022 quy định: tác quyền (quyền tác giả) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu, bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản. Đối với tác phẩm âm nhạc, quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng là một trong những quyền tài sản quan trọng, được quy định tại khoản 1 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ.

Nghĩa vụ thanh toán tiền tác quyền thuộc về tổ chức, cá nhân trực tiếp sử dụng và khai thác tác phẩm trong các hoạt động biểu diễn, phát sóng, kinh doanh dịch vụ hoặc các hình thức khai thác quyền tài sản khác. Chủ thể này là bên hưởng lợi từ việc sử dụng tác phẩm nên có trách nhiệm trả tiền tác quyền cho tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả, không phụ thuộc vào việc tác giả có trực tiếp tham gia biểu diễn hay không.

Chưa thanh toán tiền tác quyền thì buổi biểu diễn có được phép tổ chức không?

Việc cấp phép tổ chức biểu diễn nghệ thuật có phụ thuộc vào sự chấp thuận của chủ sở hữu quyền tác giả không?

Theo Điều 8 và Điều 10 Nghị định 144/2020/NĐ-CP: Quy định về điều kiện và hồ sơ để được cấp văn bản chấp thuận tổ chức biểu diễn nghệ thuật như sau:

Điều kiện tổ chức biểu diễn nghệ thuật:

  • Là đơn vị sự nghiệp công lập có chức năng biểu diễn nghệ thuật, hội chuyên về nghệ thuật biểu diễn, tổ chức, cá nhân đăng ký kinh doanh hoạt động biểu diễn nghệ thuật theo quy định của pháp luật.
  • Đáp ứng điều kiện về an ninh, trật tự an toàn xã hội, môi trường, y tế và phòng cháy nổ theo quy định.
  • Phải có văn bản chấp thuận tổ chức biểu diễn nghệ thuật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Hồ sơ để được cấp văn bản chấp thuận tổ chức biểu diễn nghệ thuật:

  • Văn bản đề nghị tổ chức biểu diễn nghệ thuật theo mẫu số 02 của nghị định này bao gồm các nội dung cơ bản như: tên chương trình, thời gian tổ chức, địa điểm tổ chức, …..
  • Kịch bản, danh mục tác phẩm gắn với tác giả, người chịu trách nhiệm về nội dung chương trình (đối với tác phẩm nước ngoài phải kèm theo bản dịch Tiếng Việt có chứng thực chữ ký người dịch).

Thủ tục xin cấp văn bản chấp thuận tổ chức biểu diễn nghệ thuật là thủ tục hành chính, cơ quan cấp phép sẽ thẩm định và cấp phép dựa trên việc tổ chức có đủ điều kiện và hồ sơ có hợp lệ hay không theo Điều 10 Nghị 144/2020/NĐ-CP.

Do đó, cá nhân, tổ chức vẫn được cấp văn bản chấp thuận dù không có văn bản đồng ý hoặc chứng minh đã được chủ sở hữu quyền tác giả cho phép sử dụng các tác phẩm sẽ được biểu diễn vì không có quy định yêu cầu bắt buộc phải có, bởi quyền tác giả là quan hệ dân sự độc lập được điều chỉnh bởi Luật Sở hữu trí tuệ không phải là điều kiện để được cấp văn bản chấp thuận biểu diễn.

Chưa thanh toán tiền tác quyền thì buổi biểu diễn có được phép tổ chức không?

Theo quy định của pháp luật về quyền tác giả, việc một buổi biểu diễn có được phép tổ chức khi chưa thanh toán tiền tác quyền hay không còn tùy vào mục đích sử dụng tác phẩm và đối tượng sử dụng. Căn cứ Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành, việc sử dụng tác phẩm biểu diễn được chia thành ba nhóm trường hợp chính sau đây:

Trường hợp 1: Sử dụng tác phẩm cho buổi biểu diễn không phải xin phép, không phải trả phí tác quyền

Pháp luật cho phép sử dụng tác phẩm để biểu diễn mà không cần xin phép và không cần phải trả phí tác quyền theo được quy định tại Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ như sau:

“1. Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền bản quyền nhưng phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm bao gồm:

a) Tự sao chép một bản để nghiên cứu khoa học, học tập của cá nhân và không nhằm mục đích thương mại. Quy định này không áp dụng trong trường hợp sao chép bằng thiết bị sao chép;

………………………

3. Việc sao chép quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với tác phẩm kiến trúc, tác phẩm mỹ thuật, chương trình máy tính; việc làm tuyển tập, hợp tuyển các tác phẩm.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này”

Theo quy định trên khi sử dụng tác phẩm nhằm mục đích phục vụ lợi ích công cộng, giáo dục, nghiên cứu, thông tin, không nhằm mục đích thương mại vàkhông làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường của tác phẩm thì không phải xin phép và không phải trả phí tác quyền. Ví dụ: Biểu diễn văn nghệ trong trường học, biểu diễn phục vụ tuyên truyền, nghiên cứu, không bán vé, không quảng cáo, không thu tiền.

Như vậy, trong trường hợp này, buổi biểu diễn được phép tổ chức mà không phải xin phép và không phải thanh toán tiền tác quyền. Tuy nhiên, đơn vị tổ chức vẫn phải ghi rõ tên tác giả, nguồn tác phẩm và không được làm sai lệch nội dung tác phẩm.

Trường hợp 2: Sử dụng tác phẩm cho buổi biểu diễn không cần xin phép nhưng phải trả phí tác quyền

Theo Điều 26 Luật Sở hữu trí tuệ các trường hợp được sử dụng tác phẩm cho buổi biểu diễn không cần xin phép nhưng phải trả phí tác quyền được quy định như sau:

“1.Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền, phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm bao gồm:

a) Tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm đã công bố, tác phẩm đã được chủ sở hữu quyền tác giả cho phép định hình trên bản ghi âm, ghi hình công bố nhằm mục đích thương mại để phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền cho chủ sở hữu quyền tác giả kể từ khi sử dụng

………….

5. Tổ chức, cá nhân có nhu cầu khai thác, sử dụng tác phẩm đã công bố của tổ chức, cá nhân Việt Nam nhưng không thể tìm được hoặc không xác định được chủ sở hữu quyền tác giả thì thực hiện theo quy định của Chính phủ.”

Theo quy định này đối tượng áp dụng bao gồm:

  • Tổ chức sử dụng tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình đã công bố để phát sóng có hoặc không có tài trợ, quảng cáo, hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào.
  • Tổ chức sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố trong hoạt động kinh doanh, thương mại.

Điều này cho thấy các chương trình biểu diễn phát trên truyền hình có quảng cáo, chương trình ca nhạc bán vé hoặc các hoạt động khai thác tác phẩm nhằm mục đích tạo doanh thu đều thuộc trường hợp sử dụng tác phẩm không phải xin phép trước nhưng bắt buộc phải thanh toán tiền tác quyền. Trong các trường hợp này, việc không thực hiện nghĩa vụ trả tiền tác quyền cho chủ sở hữu bị xem là hành vi xâm phạm quyền tác giả, bởi việc biểu diễn tác phẩm trước công chúng là một trong những quyền tài sản thuộc quyền của chủ sở hữu theo điểm b khoản 1 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ.

Việc thanh toán tiền tác quyền trong trường hợp trên được thực hiện theo hai phương thức sau:

  • Các bên đã đạt được thỏa thuận: mức phí và thời điểm thanh toán sẽ do các bên tự thỏa thuận. Nói cách khác, hai bên sẽ tự trao đổi với nhau để thống nhất: trả bao nhiêu tiền, trả trước hay trả sau, trả một lần hay nhiều lần,thời gian khi nào,…
  • Các bên không đạt được thỏa thuận: việc thanh toán sẽ áp dụng theo công thức và biểu mức có sẵn theo quy định của Chính phủ. Cụ thể việc thanh toán sẽ thông qua tổ chức đại diện tập thể quyền theo quy định tại Phụ lục I đối với Tổ chức sử dụng tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình để phát sóng và Phụ lục II Nghị định 17/2023 đối với Tổ chức sử dụng bản ghi âm, ghi hình hoạt động kinh doanh, thương mại.

Như vậy, đối với các trường hợp sử dụng tác phẩm không phải xin phép nhưng phải trả tiền tác quyền theo Điều 26 Luật Sở hữu trí tuệ, việc thanh toán tiền tác quyền là nghĩa vụ pháp lý bắt buộc, được thực hiện theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo biểu mức do Chính phủ quy định. Trường hợp nghĩa vụ này chưa được thực hiện thì dù buổi biểu diễn đã được cơ quan có thẩm quyền cấp phép tổ chức theo quy định về biểu diễn nghệ thuật, việc sử dụng tác phẩm vẫn bị coi là không hợp pháp về mặt quyền tác giả.

Trường hợp 3: Sử dụng tác phẩm cho buổi biểu diễn vừa phải xin phép, vừa phải trả phí tác quyền

Theo khoản 2 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ: việc sử dụng tác phẩm của người khác phải được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả và phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền bản quyền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc thuộc các trường hợp ngoại lệ theo quy định của pháp luật.

Do đó, cá nhân, tổ chức khi sử dụng tác phẩm của người khác để tổ chức biểu diễn phải xin phép và thanh toán tiền tác quyền, trừ các trường hợp không phải xin phép hoặc không phải xin phép nhưng phải trả tiền theo Điều 25 và Điều 26 Luật Sở hữu trí tuệ.

Trường hợp đơn vị tổ chức không xin phép, không thông qua tổ chức đại diện tập thể quyền và không có thỏa thuận về việc trả tiền tác quyền thì dù đã được cơ quan có thẩm quyền cấp phép tổ chức biểu diễn, hoạt động này vẫn bị coi là hành vi xâm phạm quyền tác giả và không hợp pháp về mặt quyền tác giả.

Trên đây là bài viết “Chưa thanh toán tiền tác quyền thì buổi biểu diễn có được phép tổ chức không?” mà VCD gửi đến bạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Câu hỏi thường gặp

  1. Câu hỏi 1: Đã được cấp văn bản chấp thuận tổ chức biểu diễn thì có coi là hợp pháp về tác quyền không?

    Không. Văn bản chấp thuận tổ chức biểu diễn theo Nghị định 144/2020/NĐ-CP chỉ là thủ tục hành chính. Nghĩa vụ xin phép và thanh toán tiền tác quyền là quan hệ dân sự độc lập, được điều chỉnh bởi Luật Sở hữu trí tuệ. Do đó, dù đã được cấp phép biểu diễn, việc sử dụng tác phẩm vẫn có thể bị coi là xâm phạm quyền tác giả nếu chưa thực hiện đúng nghĩa vụ tác quyền.

  2. Câu hỏi 2: Chưa thanh toán tiền tác quyền thì buổi biểu diễn có được phép tổ chức không?

    Tùy từng trường hợp. Nếu thuộc trường hợp ngoại lệ không phải xin phép, không phải trả phí theo Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ thì buổi biểu diễn vẫn được phép tổ chức. Ngược lại, đối với các trường hợp phải trả tiền tác quyền theo Điều 26 hoặc vừa phải xin phép vừa phải trả tiền theo Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ, việc chưa thanh toán tiền tác quyền đồng nghĩa với chưa hoàn tất nghĩa vụ pháp lý và buổi biểu diễn bị coi là không hợp pháp về mặt quyền tác giả.

Bản cyanotype vừa hoàn thành được phủ kính bảo quản khi hồ sơ đăng ký vẫn để ngoài

Quyền tác giả được bảo hộ khi nào?

Không ít người nhầm tưởng rằng phải đăng ký bản quyền thì tác phẩm mới được pháp luật bảo hộ. Thực tế, Luật Sở hữu trí tuệ quy định quyền tác giả được xác lập ngay khi tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới một hình thức vật chất cụ thể. Vậy thời điểm nào quyền tác giả chính thức được bảo hộ và cần đáp ứng những điều kiện gì theo quy định pháp luật?

Quyền tác giả là gì?

Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2022: “Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”. Quyền này bao gồm hai nhóm quyền cơ bản là quyền nhân thân và quyền tài sản, nhằm bảo vệ toàn diện giá trị tinh thần và giá trị khai thác kinh tế của tác phẩm.

Quyền nhân thân:

  • Đặt tên tác phẩm; đứng tên thật hoặc bút danh khi công bố, sử dụng
  • Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố
  • Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác xuyên tạc, sửa đổi, cắt xén gây ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của tác giả.

Quyền tài sản:

  • Cho phép tác giả hoặc chủ sở hữu khai thác thương mại tác phẩm thông qua các hoạt động như làm tác phẩm phái sinh
  • Biểu diễn trước công chúng; sao chép dưới mọi hình thức; phân phối, bán, chuyển giao bản sao tác phẩm
  • Phát sóng, truyền đạt đến công chúng qua các phương tiện kỹ thuật
  • Cho thuê bản gốc hoặc bản sao đối với tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính và các hình thức khai thác khác.

Tóm lại, quyền tác giả là quyền của người đã bỏ công sức lao động trí tuệ để sáng tạo nên tác phẩm mang dấu ấn cá nhân riêng biệt, không phụ thuộc vào hình thức thể hiện của tác phẩm.

Quyền tác giả được bảo hộ khi nào?

Quyền tác giả được bảo hộ khi nào?

Đây là vấn đề mà rất nhiều người vẫn còn hiểu nhầm, cho rằng tác phẩm chỉ được pháp luật bảo hộ khi đã thực hiện thủ tục đăng ký bản quyền. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam quy định hoàn toàn khác.

Theo khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ 2022: “Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện d­ưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay ch­ưa công bố, đã đăng ký hay ch­ưa đăng ký.”

Điều này có nghĩa là ngay khi bạn viết xong một bài thơ, soạn xong một bài giảng, chụp một bức ảnh, thiết kế một bản vẽ hay lập trình một phần mềm… thì quyền tác giả đã tự động phát sinh mà không cần thủ tục hành chính, không cần nộp hồ sơ, không cần xin xác nhận.

Nhưng không phải bất kỳ tác phẩm nào cũng được bảo hộ, mà cần đáp ứng 2 điều kiện sau:

Điều kiện 1: Tác phẩm do chính tác giả trực tiếp sáng tạo

Tác phẩm phải là kết quả lao động trí tuệ của tác giả, không sao chép từ người khác.

Điều kiện 2: Tác phẩm được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định

Ý tưởng trong đầu không được bảo hộ. Nhưng khi ý tưởng đó được thể hiện ra dưới dạng văn bản viết, file mềm, bản ghi âm, hình ảnh, bản vẽ, mã nguồn chương trình… thì quyền tác giả phát sinh.

Điều này rất quan trọng trong thực tiễn tranh chấp quyền tác giả vì ai chứng minh được mình tạo ra tác phẩm trước, người đó có lợi thế pháp lý.

Tóm lại, quyền tác giả được bảo hộ ngay tại thời điểm tác phẩm được sáng tạo và thể hiện ra dưới một hình thức vật chất cụ thể, không phụ thuộc vào việc đã đăng ký hay chưa đăng ký bản quyền. Chỉ cần tác phẩm là kết quả lao động trí tuệ do chính tác giả trực tiếp tạo ra và đã được “vật chất hóa” thành văn bản, hình ảnh, âm thanh, bản vẽ, dữ liệu số hay bất kỳ hình thức lưu giữ nào, thì quyền tác giả đã tự động phát sinh và được pháp luật bảo vệ.

Có bắt buộc phải đăng ký quyền tác giả không?

Không ít người lầm tưởng rằng muốn được pháp luật bảo hộ thì bắt buộc phải đăng ký quyền tác giả. Song, Luật Sở hữu trí tuệ quy định rõ, đăng ký không phải là điều kiện để quyền tác giả phát sinh. Ngay từ thời điểm tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, quyền tác giả đã tự động được xác lập.

Quy định này được khẳng định tại khoản 2 Điều 49 Luật Sở hữu trí tuệ 2022: “Việc nộp hồ sơ để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan không phải là thủ tục bắt buộc để được hưởng quyền tác giả, quyền liên quan theo quy định của Luật này.” Điều đó có nghĩa là, dù bạn chưa từng thực hiện thủ tục đăng ký, tác phẩm của bạn vẫn được pháp luật bảo hộ đầy đủ.

Tuy vậy, pháp luật vẫn khuyến khích đăng ký quyền tác giả bởi giá trị chứng cứ pháp lý rất lớn mà thủ tục này mang lại. Về bản chất, đăng ký quyền tác giả là cách để tạo lập chứng cứ vững chắc chứng minh quyền sở hữu khi có tranh chấp xảy ra.

Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả là căn cứ pháp lý quan trọng để xác định: ai là tác giả, ai là chủ sở hữu và thời điểm tác phẩm được hình thành. Khi phát sinh tranh chấp liên quan đến sao chép hoặc xâm phạm quyền tác giả, người đã đăng ký chỉ cần xuất trình giấy chứng nhận, trong khi người chưa đăng ký sẽ phải tốn nhiều công sức chứng minh bằng bản thảo, file gốc, email trao đổi, nhân chứng, thời điểm tạo lập dữ liệu…

Trên đây là bài viết giải đáp vấn đề “Quyền tác giả được bảo hộ khi nào?”. Việc hiểu đúng quy định này sẽ giúp cá nhân, tổ chức chủ động hơn trong việc bảo vệ thành quả sáng tạo và hạn chế tối đa các rủi ro pháp lý khi xảy ra tranh chấp.

Trân trọng,

Câu hỏi thường gặp

  1. 1. Tác phẩm cần đáp ứng điều kiện gì để được bảo hộ quyền tác giả?


    Tác phẩm phải do chính tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không sao chép từ tác phẩm của người khác.

  2. 2. Ý tưởng có được bảo hộ quyền tác giả không?

    Không. Quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức thể hiện cụ thể của ý tưởng, còn ý tưởng, khái niệm hoặc nội dung chưa được thể hiện thành tác phẩm thì không thuộc phạm vi bảo hộ.


Tác phẩm sơn mài bên chuỗi bốn mùa và dải chỉ dài tượng trưng thời hạn bảo hộ nhiều năm

Quyền tác giả được bảo hộ bao nhiều năm

Thời hạn bảo hộ quyền tác giả là vấn đề được rất nhiều cá nhân, tổ chức quan tâm khi khai thác và sử dụng tác phẩm trong thực tế. Không ít trường hợp vi phạm pháp luật xuất phát từ việc hiểu sai hoặc không nắm rõ thời gian bảo hộ đối với từng nhóm quyền. Vậy quyền tác giả được bảo hộ trong bao nhiêu năm và cách tính thời hạn này được xác định như thế nào? Cùng VCD tìm hiểu trong bài viết dưới đây!

Thế nào là quyền tác giả?

Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2022, quyền tác giả được định nghĩa như sau:

“Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”. Quyền này bao gồm hai nhóm quyền cơ bản là quyền nhân thân và quyền tài sản, nhằm bảo vệ toàn diện giá trị tinh thần và giá trị khai thác kinh tế của tác phẩm.”

Về quyền nhân thân, tác giả được pháp luật bảo đảm các quyền như: đặt tên cho tác phẩm; đứng tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; quyết định việc công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố; đồng thời có quyền bảo vệ sự toàn vẹn nội dung tác phẩm, không để người khác xuyên tạc, sửa đổi, cắt xén làm ảnh hưởng đến danh dự và uy tín của mình.

Về quyền tài sản, tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả có quyền khai thác thương mại tác phẩm thông qua nhiều hình thức khác nhau như: làm tác phẩm phái sinh; biểu diễn trước công chúng; sao chép tác phẩm dưới mọi hình thức; phân phối, chuyển nhượng bản sao tác phẩm; phát sóng, truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng các phương tiện kỹ thuật; cho thuê bản gốc hoặc bản sao đối với tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính và các hình thức khai thác hợp pháp khác.

Tóm lại, quyền tác giả là tập hợp các quyền pháp lý dành cho người sáng tạo hoặc sở hữu tác phẩm, bảo đảm sự ghi nhận đối với công sức lao động trí tuệ và tạo cơ sở cho việc khai thác giá trị kinh tế từ tác phẩm đó, không phụ thuộc vào hình thức thể hiện cụ thể.

Quyền tác giả được bảo hộ bao nhiều năm

Quyền tác giả được bảo hộ bao nhiêu năm?

Theo Điều 27 Luật sở hữu trí tuệ 2022, thời hạn quyền tác giả được bảo hộ quy định như sau:

Thời hạn bảo hộ quyền nhân thân sẽ là vô thời hạn trừ quyền được công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm.

Khi đó thời hạn bảo hộ quyền công bố này sẽ giống với quyền tài sản với từng loại hình thời hạn bảo hộ sẽ khác sau, cụ thể:

  • Tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh có thời hạn bảo hộ là 75 năm, kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên;
  • Tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng chưa được công bố trong thời hạn 25 năm, kể từ khi tác phẩm được định hình thì thời hạn bảo hộ là 100 năm, kể từ khi tác phẩm được định hình;
  • Trường hợp tác phẩm khuyết danh, khi các thông tin về tác giả xuất hiện hoặc tác phẩm không thuộc loại hình nêu trên thì thời hạn bảo hộ được tính là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm tiếp theo năm tác giả chết; trường hợp tác phẩm có đồng tác giả thì thời hạn bảo hộ chấm dứt vào năm thứ năm mươi sau năm đồng tác giả cuối cùng chết.

Lưu ý: Thời hạn bảo hộ này chấm dứt vào thời điểm 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm chấm dứt thời hạn bảo hộ quyền tác giả.

Ví dụ:

Tác giả A sáng tác một cuốn sách (đã được công bố) và qua đời vào năm 2020. Theo quy định, quyền tài sản đối với tác phẩm này được bảo hộ trong suốt cuộc đời tác giả và 50 năm tiếp theo kể từ năm tác giả mất.

Như vậy, thời hạn bảo hộ sẽ được tính từ năm 2020 đến hết năm 2070 và chấm dứt vào thời điểm 24 giờ ngày 31/12/2070. Từ ngày 01/01/2071, tác phẩm này thuộc về phạm vi công cộng và mọi tổ chức, cá nhân đều có thể sử dụng mà không cần xin phép, không phải trả tiền bản quyền (nhưng vẫn phải ghi tên tác giả theo quy định về quyền nhân thân).

Lưu ý quan trọng khi sử dụng tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ

Nhiều người cho rằng khi tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ thì có thể tự do sử dụng theo bất kỳ cách nào. Tuy nhiên, cách hiểu này chưa hoàn toàn chính xác. Trên thực tế, dù quyền tài sản đã chấm dứt và tác phẩm thuộc về phạm vi công cộng, nhưng quyền nhân thân của tác giả vẫn được pháp luật bảo vệ vô thời hạn.

Vì vậy, khi khai thác, sử dụng các tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ, cá nhân và tổ chức cần đặc biệt lưu ý những vấn đề sau:

Thứ nhất, vẫn phải ghi tên tác giả khi sử dụng tác phẩm.

Dù không cần xin phép và không phải trả tiền bản quyền, việc ghi nhận tên tác giả là nghĩa vụ bắt buộc nhằm tôn trọng công sức sáng tạo của người đã tạo ra tác phẩm.

Thứ hai, không được xuyên tạc, sửa đổi, cắt xén nội dung tác phẩm.


Tác phẩm có thể được khai thác tự do, nhưng không được làm sai lệch nội dung, ý nghĩa ban đầu hoặc sử dụng theo cách gây ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của tác giả.

Thứ ba, không được sử dụng tác phẩm trong bối cảnh tiêu cực, phản cảm.


Việc đưa tác phẩm vào môi trường, nội dung không phù hợp có thể bị coi là xâm phạm quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm.

Thứ tư, cần xác định chính xác tác phẩm đã thực sự hết thời hạn bảo hộ.


Trước khi sử dụng, cần kiểm tra kỹ thời điểm chấm dứt bảo hộ theo quy định pháp luật để tránh vi phạm do hiểu sai mốc thời gian.

Có thể thấy, hết thời hạn bảo hộ không đồng nghĩa với việc được toàn quyền sử dụng tác phẩm một cách tùy tiện. Việc tôn trọng quyền nhân thân của tác giả vẫn là nguyên tắc bắt buộc khi khai thác các tác phẩm thuộc phạm vi công cộng.

Trên đây là bài viết “Quyền tác giả được bảo hộ bao nhiều năm”. Nắm rõ thời hạn bảo hộ không chỉ giúp tác giả và chủ sở hữu bảo vệ tốt quyền lợi của mình mà còn giúp cá nhân, tổ chức sử dụng tác phẩm đúng quy định, tránh rủi ro vi phạm pháp luật trong quá trình khai thác và sử dụng.

Trân trọng,

Câu hỏi thường gặp

  1. 1. Sử dụng tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ có cần ghi tên tác giả không?


    Có. Dù tác phẩm đã thuộc phạm vi công cộng, người sử dụng vẫn bắt buộc phải ghi tên tác giả để tôn trọng quyền nhân thân được bảo hộ vô thời hạn.

  2. 2. Có được phép chỉnh sửa, cắt xén tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ không?

    Không. Mọi hành vi sửa đổi, xuyên tạc, cắt xén làm sai lệch nội dung hoặc ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của tác giả vẫn bị coi là vi phạm quyền nhân thân.