Sorting by

×
Skip to main content

Tác giả: Biên Tập Viên

Quyền tác giả được bảo hộ khi nào?

Không ít người nhầm tưởng rằng phải đăng ký bản quyền thì tác phẩm mới được pháp luật bảo hộ. Thực tế, Luật Sở hữu trí tuệ quy định quyền tác giả được xác lập ngay khi tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới một hình thức vật chất cụ thể. Vậy thời điểm nào quyền tác giả chính thức được bảo hộ và cần đáp ứng những điều kiện gì theo quy định pháp luật?

Quyền tác giả là gì?

Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2022: “Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”. Quyền này bao gồm hai nhóm quyền cơ bản là quyền nhân thân và quyền tài sản, nhằm bảo vệ toàn diện giá trị tinh thần và giá trị khai thác kinh tế của tác phẩm.

Quyền nhân thân:

  • Đặt tên tác phẩm; đứng tên thật hoặc bút danh khi công bố, sử dụng
  • Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố
  • Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác xuyên tạc, sửa đổi, cắt xén gây ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của tác giả.

Quyền tài sản:

  • Cho phép tác giả hoặc chủ sở hữu khai thác thương mại tác phẩm thông qua các hoạt động như làm tác phẩm phái sinh
  • Biểu diễn trước công chúng; sao chép dưới mọi hình thức; phân phối, bán, chuyển giao bản sao tác phẩm
  • Phát sóng, truyền đạt đến công chúng qua các phương tiện kỹ thuật
  • Cho thuê bản gốc hoặc bản sao đối với tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính và các hình thức khai thác khác.

Tóm lại, quyền tác giả là quyền của người đã bỏ công sức lao động trí tuệ để sáng tạo nên tác phẩm mang dấu ấn cá nhân riêng biệt, không phụ thuộc vào hình thức thể hiện của tác phẩm.

Quyền tác giả được bảo hộ khi nào?

Quyền tác giả được bảo hộ khi nào?

Đây là vấn đề mà rất nhiều người vẫn còn hiểu nhầm, cho rằng tác phẩm chỉ được pháp luật bảo hộ khi đã thực hiện thủ tục đăng ký bản quyền. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam quy định hoàn toàn khác.

Theo khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ 2022: “Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện d­ưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay ch­ưa công bố, đã đăng ký hay ch­ưa đăng ký.”

Điều này có nghĩa là ngay khi bạn viết xong một bài thơ, soạn xong một bài giảng, chụp một bức ảnh, thiết kế một bản vẽ hay lập trình một phần mềm… thì quyền tác giả đã tự động phát sinh mà không cần thủ tục hành chính, không cần nộp hồ sơ, không cần xin xác nhận.

Nhưng không phải bất kỳ tác phẩm nào cũng được bảo hộ, mà cần đáp ứng 2 điều kiện sau:

Điều kiện 1: Tác phẩm do chính tác giả trực tiếp sáng tạo

Tác phẩm phải là kết quả lao động trí tuệ của tác giả, không sao chép từ người khác.

Điều kiện 2: Tác phẩm được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định

Ý tưởng trong đầu không được bảo hộ. Nhưng khi ý tưởng đó được thể hiện ra dưới dạng văn bản viết, file mềm, bản ghi âm, hình ảnh, bản vẽ, mã nguồn chương trình… thì quyền tác giả phát sinh.

Điều này rất quan trọng trong thực tiễn tranh chấp quyền tác giả vì ai chứng minh được mình tạo ra tác phẩm trước, người đó có lợi thế pháp lý.

Tóm lại, quyền tác giả được bảo hộ ngay tại thời điểm tác phẩm được sáng tạo và thể hiện ra dưới một hình thức vật chất cụ thể, không phụ thuộc vào việc đã đăng ký hay chưa đăng ký bản quyền. Chỉ cần tác phẩm là kết quả lao động trí tuệ do chính tác giả trực tiếp tạo ra và đã được “vật chất hóa” thành văn bản, hình ảnh, âm thanh, bản vẽ, dữ liệu số hay bất kỳ hình thức lưu giữ nào, thì quyền tác giả đã tự động phát sinh và được pháp luật bảo vệ.

Có bắt buộc phải đăng ký quyền tác giả không?

Không ít người lầm tưởng rằng muốn được pháp luật bảo hộ thì bắt buộc phải đăng ký quyền tác giả. Song, Luật Sở hữu trí tuệ quy định rõ, đăng ký không phải là điều kiện để quyền tác giả phát sinh. Ngay từ thời điểm tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, quyền tác giả đã tự động được xác lập.

Quy định này được khẳng định tại khoản 2 Điều 49 Luật Sở hữu trí tuệ 2022: “Việc nộp hồ sơ để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan không phải là thủ tục bắt buộc để được hưởng quyền tác giả, quyền liên quan theo quy định của Luật này.” Điều đó có nghĩa là, dù bạn chưa từng thực hiện thủ tục đăng ký, tác phẩm của bạn vẫn được pháp luật bảo hộ đầy đủ.

Tuy vậy, pháp luật vẫn khuyến khích đăng ký quyền tác giả bởi giá trị chứng cứ pháp lý rất lớn mà thủ tục này mang lại. Về bản chất, đăng ký quyền tác giả là cách để tạo lập chứng cứ vững chắc chứng minh quyền sở hữu khi có tranh chấp xảy ra.

Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả là căn cứ pháp lý quan trọng để xác định: ai là tác giả, ai là chủ sở hữu và thời điểm tác phẩm được hình thành. Khi phát sinh tranh chấp liên quan đến sao chép hoặc xâm phạm quyền tác giả, người đã đăng ký chỉ cần xuất trình giấy chứng nhận, trong khi người chưa đăng ký sẽ phải tốn nhiều công sức chứng minh bằng bản thảo, file gốc, email trao đổi, nhân chứng, thời điểm tạo lập dữ liệu…

Trên đây là bài viết giải đáp vấn đề “Quyền tác giả được bảo hộ khi nào?”. Việc hiểu đúng quy định này sẽ giúp cá nhân, tổ chức chủ động hơn trong việc bảo vệ thành quả sáng tạo và hạn chế tối đa các rủi ro pháp lý khi xảy ra tranh chấp.

Trân trọng,

Câu hỏi thường gặp

  1. 1. Tác phẩm cần đáp ứng điều kiện gì để được bảo hộ quyền tác giả?


    Tác phẩm phải do chính tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không sao chép từ tác phẩm của người khác.

  2. 2. Ý tưởng có được bảo hộ quyền tác giả không?

    Không. Quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức thể hiện cụ thể của ý tưởng, còn ý tưởng, khái niệm hoặc nội dung chưa được thể hiện thành tác phẩm thì không thuộc phạm vi bảo hộ.


Quyền tác giả được bảo hộ bao nhiều năm

Thời hạn bảo hộ quyền tác giả là vấn đề được rất nhiều cá nhân, tổ chức quan tâm khi khai thác và sử dụng tác phẩm trong thực tế. Không ít trường hợp vi phạm pháp luật xuất phát từ việc hiểu sai hoặc không nắm rõ thời gian bảo hộ đối với từng nhóm quyền. Vậy quyền tác giả được bảo hộ trong bao nhiêu năm và cách tính thời hạn này được xác định như thế nào? Cùng VCD tìm hiểu trong bài viết dưới đây!

Thế nào là quyền tác giả?

Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2022, quyền tác giả được định nghĩa như sau:

“Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”. Quyền này bao gồm hai nhóm quyền cơ bản là quyền nhân thân và quyền tài sản, nhằm bảo vệ toàn diện giá trị tinh thần và giá trị khai thác kinh tế của tác phẩm.”

Về quyền nhân thân, tác giả được pháp luật bảo đảm các quyền như: đặt tên cho tác phẩm; đứng tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; quyết định việc công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố; đồng thời có quyền bảo vệ sự toàn vẹn nội dung tác phẩm, không để người khác xuyên tạc, sửa đổi, cắt xén làm ảnh hưởng đến danh dự và uy tín của mình.

Về quyền tài sản, tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả có quyền khai thác thương mại tác phẩm thông qua nhiều hình thức khác nhau như: làm tác phẩm phái sinh; biểu diễn trước công chúng; sao chép tác phẩm dưới mọi hình thức; phân phối, chuyển nhượng bản sao tác phẩm; phát sóng, truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng các phương tiện kỹ thuật; cho thuê bản gốc hoặc bản sao đối với tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính và các hình thức khai thác hợp pháp khác.

Tóm lại, quyền tác giả là tập hợp các quyền pháp lý dành cho người sáng tạo hoặc sở hữu tác phẩm, bảo đảm sự ghi nhận đối với công sức lao động trí tuệ và tạo cơ sở cho việc khai thác giá trị kinh tế từ tác phẩm đó, không phụ thuộc vào hình thức thể hiện cụ thể.

Quyền tác giả được bảo hộ bao nhiều năm

Quyền tác giả được bảo hộ bao nhiêu năm?

Theo Điều 27 Luật sở hữu trí tuệ 2022, thời hạn quyền tác giả được bảo hộ quy định như sau:

Thời hạn bảo hộ quyền nhân thân sẽ là vô thời hạn trừ quyền được công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm.

Khi đó thời hạn bảo hộ quyền công bố này sẽ giống với quyền tài sản với từng loại hình thời hạn bảo hộ sẽ khác sau, cụ thể:

  • Tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh có thời hạn bảo hộ là 75 năm, kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên;
  • Tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng chưa được công bố trong thời hạn 25 năm, kể từ khi tác phẩm được định hình thì thời hạn bảo hộ là 100 năm, kể từ khi tác phẩm được định hình;
  • Trường hợp tác phẩm khuyết danh, khi các thông tin về tác giả xuất hiện hoặc tác phẩm không thuộc loại hình nêu trên thì thời hạn bảo hộ được tính là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm tiếp theo năm tác giả chết; trường hợp tác phẩm có đồng tác giả thì thời hạn bảo hộ chấm dứt vào năm thứ năm mươi sau năm đồng tác giả cuối cùng chết.

Lưu ý: Thời hạn bảo hộ này chấm dứt vào thời điểm 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm chấm dứt thời hạn bảo hộ quyền tác giả.

Ví dụ:

Tác giả A sáng tác một cuốn sách (đã được công bố) và qua đời vào năm 2020. Theo quy định, quyền tài sản đối với tác phẩm này được bảo hộ trong suốt cuộc đời tác giả và 50 năm tiếp theo kể từ năm tác giả mất.

Như vậy, thời hạn bảo hộ sẽ được tính từ năm 2020 đến hết năm 2070 và chấm dứt vào thời điểm 24 giờ ngày 31/12/2070. Từ ngày 01/01/2071, tác phẩm này thuộc về phạm vi công cộng và mọi tổ chức, cá nhân đều có thể sử dụng mà không cần xin phép, không phải trả tiền bản quyền (nhưng vẫn phải ghi tên tác giả theo quy định về quyền nhân thân).

Lưu ý quan trọng khi sử dụng tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ

Nhiều người cho rằng khi tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ thì có thể tự do sử dụng theo bất kỳ cách nào. Tuy nhiên, cách hiểu này chưa hoàn toàn chính xác. Trên thực tế, dù quyền tài sản đã chấm dứt và tác phẩm thuộc về phạm vi công cộng, nhưng quyền nhân thân của tác giả vẫn được pháp luật bảo vệ vô thời hạn.

Vì vậy, khi khai thác, sử dụng các tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ, cá nhân và tổ chức cần đặc biệt lưu ý những vấn đề sau:

Thứ nhất, vẫn phải ghi tên tác giả khi sử dụng tác phẩm.

Dù không cần xin phép và không phải trả tiền bản quyền, việc ghi nhận tên tác giả là nghĩa vụ bắt buộc nhằm tôn trọng công sức sáng tạo của người đã tạo ra tác phẩm.

Thứ hai, không được xuyên tạc, sửa đổi, cắt xén nội dung tác phẩm.


Tác phẩm có thể được khai thác tự do, nhưng không được làm sai lệch nội dung, ý nghĩa ban đầu hoặc sử dụng theo cách gây ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của tác giả.

Thứ ba, không được sử dụng tác phẩm trong bối cảnh tiêu cực, phản cảm.


Việc đưa tác phẩm vào môi trường, nội dung không phù hợp có thể bị coi là xâm phạm quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm.

Thứ tư, cần xác định chính xác tác phẩm đã thực sự hết thời hạn bảo hộ.


Trước khi sử dụng, cần kiểm tra kỹ thời điểm chấm dứt bảo hộ theo quy định pháp luật để tránh vi phạm do hiểu sai mốc thời gian.

Có thể thấy, hết thời hạn bảo hộ không đồng nghĩa với việc được toàn quyền sử dụng tác phẩm một cách tùy tiện. Việc tôn trọng quyền nhân thân của tác giả vẫn là nguyên tắc bắt buộc khi khai thác các tác phẩm thuộc phạm vi công cộng.

Trên đây là bài viết “Quyền tác giả được bảo hộ bao nhiều năm. Nắm rõ thời hạn bảo hộ không chỉ giúp tác giả và chủ sở hữu bảo vệ tốt quyền lợi của mình mà còn giúp cá nhân, tổ chức sử dụng tác phẩm đúng quy định, tránh rủi ro vi phạm pháp luật trong quá trình khai thác và sử dụng.

Trân trọng,

Câu hỏi thường gặp

  1. 1. Sử dụng tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ có cần ghi tên tác giả không?


    Có. Dù tác phẩm đã thuộc phạm vi công cộng, người sử dụng vẫn bắt buộc phải ghi tên tác giả để tôn trọng quyền nhân thân được bảo hộ vô thời hạn.

  2. 2. Có được phép chỉnh sửa, cắt xén tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ không?

    Không. Mọi hành vi sửa đổi, xuyên tạc, cắt xén làm sai lệch nội dung hoặc ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của tác giả vẫn bị coi là vi phạm quyền nhân thân.

Sưu tập dữ liệu có được bảo hộ quyền tác giả không?

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ và dữ liệu số, việc thu thập và xây dựng các sưu tập dữ liệu ngày càng phổ biến trong nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, không ít người vẫn nhầm lẫn rằng sưu tập dữ liệu có được bảo hộ quyền tác giả không. Cùng VCD tìm hiểu trong bài viết dưới đây nhé! 

Sưu tập dữ liệu là gì?

Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có định nghĩa riêng biệt về “sưu tập dữ liệu”. Tuy nhiên, có thể hiểu, sưu tập dữ liệu là tập hợp các dữ liệu riêng lẻ (con số, thông tin, ký hiệu, văn bản, hình ảnh…) được thu thập, chọn lọc, sắp xếp và hệ thống hóa theo một nguyên tắc nhất định, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu, quản lý, kinh doanh hoặc khai thác thông tin.

Sưu tập dữ liệu có thể tồn tại dưới nhiều hình thức như:

  • Cơ sở dữ liệu khách hàng;

  • Bộ dữ liệu thống kê;

  • Danh mục thông tin chuyên ngành;

  • Cơ sở dữ liệu số hóa;

  • Tuyển tập thông tin được biên soạn, phân loại có chủ đích.

Lưu ý: Bản thân dữ liệu đơn lẻ (sự kiện, con số, thông tin thuần túy) thường không mang tính sáng tạo. Do đó, vấn đề bảo hộ không nằm ở dữ liệu riêng lẻ mà nằm ở cách thức lựa chọn, sắp xếp và trình bày dữ liệu.

Sưu tập dữ liệu có được bảo hộ quyền tác giả không?

Sưu tập dữ liệu có được bảo hộ quyền tác giả không?

Dựa trên quy định tại khoản 1, Điều 14 Luật sở hữu trí tuệ 2022:

“Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ bao gồm:

m) Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu.”

Như vậy, có thể khẳng định rằng sưu tập dữ liệu thuộc loại hình tác phẩm được pháp luật bảo hộ quyền tác giả. Tuy nhiên, không phải mọi sưu tập dữ liệu đều đương nhiên được bảo hộ. 

Lưu ý:

  • Khoản 3 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ 2022, nhấn mạnh rằng tác phẩm được bảo hộ phải do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình và không sao chép từ tác phẩm của người khác. Điều này đồng nghĩa với việc pháp luật không bảo hộ dữ liệu thô, dữ liệu mang tính sự kiện hay thông tin khách quan đơn lẻ, bởi những yếu tố này vốn tồn tại khách quan và không phải là kết quả của sự sáng tạo. Thay vào đó, yếu tố được bảo hộ nằm ở cách thức tuyển chọn, phân loại, sắp xếp và hệ thống hóa dữ liệu, tức là hình thức thể hiện mang dấu ấn cá nhân của tác giả.

  • Việc bảo hộ quyền tác giả đối với sưu tập dữ liệu cũng cần được hiểu đúng về phạm vi bảo hộ. Quyền tác giả chỉ bảo vệ hình thức thể hiện sáng tạo của sưu tập dữ liệu, chứ không bảo vệ nội dung thông tin, con số hay dữ liệu riêng lẻ bên trong. Do đó, người khác vẫn có thể thu thập và sử dụng các dữ liệu tương tự từ những nguồn hợp pháp, nhưng không được sao chép, tái tạo cấu trúc, cách tổ chức hoặc phương pháp trình bày dữ liệu mang tính sáng tạo của sưu tập đã được bảo hộ.

Từ những phân tích trên có thể khẳng định rằng, sưu tập dữ liệu được bảo hộ quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam, nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện về tính sáng tạo, tính độc lập và hình thức thể hiện theo quy định tại Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ 2022.

Việc ghi nhận và bảo hộ loại hình tác phẩm này không chỉ phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế số, mà còn góp phần bảo vệ thành quả lao động trí tuệ, khuyến khích cá nhân, tổ chức đầu tư nghiêm túc vào hoạt động thu thập và khai thác dữ liệu một cách hợp pháp.

Quy định về quyền tác giả đối với sưu tập dữ liệu

Theo khoản 2, điều 22 Luật sở hữu trí tuệ 2022:

“ Sưu tập dữ liệu là tập hợp có tính sáng tạo thể hiện ở sự tuyển chọn, sắp xếp các tư liệu dưới dạng điện tử hoặc dạng khác.

Việc bảo hộ quyền tác giả đối với sưu tập dữ liệu không bao hàm chính các tư liệu đó, không gây phương hại đến quyền tác giả của chính tư liệu đó.”

Từ quy định này có thể thấy, pháp luật không đánh giá tính sáng tạo của sưu tập dữ liệu dựa trên nội dung đơn lẻ của từng tư liệu, bởi các dữ liệu, thông tin hay sự kiện vốn có thể tồn tại độc lập và mang tính khách quan. Thay vào đó, yếu tố quyết định để sưu tập dữ liệu được bảo hộ quyền tác giả chính là cách thức tổ chức, hệ thống hóa, phân loại và trình bày dữ liệu, thể hiện dấu ấn trí tuệ và sự sáng tạo riêng của tác giả trong quá trình biên soạn.

Bên cạnh đó, Luật Sở hữu trí tuệ còn khẳng định nguyên tắc quan trọng nhằm tránh sự chồng lấn và xung đột quyền: việc bảo hộ sưu tập dữ liệu không đồng nghĩa với việc chiếm hữu hay làm phát sinh quyền đối với các tư liệu bên trong. Do đó, trong trường hợp các tư liệu được sử dụng trong sưu tập dữ liệu là những tác phẩm đã được bảo hộ quyền tác giả một cách độc lập, thì quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả đối với các tư liệu đó vẫn được giữ nguyên, không bị ảnh hưởng bởi việc bảo hộ sưu tập dữ liệu.

Các quy định này nhằm bảo đảm sự cân bằng giữa việc bảo vệ thành quả lao động sáng tạo của người biên soạn sưu tập dữ liệu và việc tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của tác giả đối với từng tư liệu riêng lẻ, phù hợp với bản chất và mục tiêu của pháp luật về quyền tác giả trong môi trường số.

Trên đây là bài viết Sưu tập dữ liệu có được bảo hộ quyền tác giả không?”. Hy vọng, những chia sẻ trên sẽ giúp cá nhân, tổ chức chủ động hơn trong việc khai thác, sử dụng và bảo vệ thành quả lao động trí tuệ của mình, đồng thời hạn chế các rủi ro pháp lý phát sinh trong quá trình sử dụng dữ liệu trong môi trường số hiện nay. 

Trân trọng,

Câu hỏi thường gặp

  1. 1. Pháp luật bảo hộ sưu tập dữ liệu ở phạm vi nào?

    Quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức thể hiện sáng tạo của sưu tập dữ liệu, bao gồm cấu trúc, cách tổ chức và trình bày dữ liệu, không bảo hộ các tư liệu, thông tin hay dữ liệu riêng lẻ bên trong sưu tập.

  2. 2. Có bắt buộc phải đăng ký quyền tác giả cho sưu tập dữ liệu không?

    Không bắt buộc. Quyền tác giả đối với sưu tập dữ liệu phát sinh tự động kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất, tuy nhiên việc đăng ký vẫn được khuyến khích để thuận lợi trong việc chứng minh quyền khi xảy ra tranh chấp.

Quyền tác giả đối với kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ

Trong bối cảnh khoa học – công nghệ trở thành động lực cốt lõi của phát triển kinh tế tri thức, các kết quả nghiên cứu không chỉ mang giá trị học thuật mà còn mang ý nghĩa pháp lý và thương mại sâu sắc. Việc xác định đúng quyền tác giả đối với kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ sẽ giúp cá nhân, tổ chức bảo vệ thành quả trí tuệ, tránh tranh chấp và khai thác hiệu quả giá trị sáng tạo theo quy định của pháp luật.

Kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ là gì?

Theo khoản 7 và khoản 8, Điều 3 Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo 2025:

Nghiên cứu ứng dụng là hoạt động nghiên cứu khoa học sử dụng tri thức khoa học để tạo ra giải pháp phục vụ nhu cầu thực tiễn trong sản xuất, kinh doanh, đời sống kinh tế – xã hội.

“Phát triển công nghệ là quá trình vận dụng kết quả nghiên cứu khoa học và kinh nghiệm để thiết kế, thử nghiệm, hoàn thiện và chuẩn hóa quy trình kỹ thuật nhằm tạo ra công nghệ mới hoặc cải tiến công nghệ, phù hợp với điều kiện ứng dụng thực tiễn.”

Do đó, kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được hiểu là tập hợp các sản phẩm, tri thức, giải pháp, quy trình, thiết bị, phương pháp, mô hình hoặc công nghệ mới được tạo ra sau quá trình nghiên cứu và phát triển, có khả năng ứng dụng vào thực tế và đóng góp trực tiếp vào tiến trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, nâng cao hiệu quả sản xuất – dịch vụ, cải thiện chất lượng cuộc sống và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong xã hội.

Kết quả này có thể tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau như:

  • Tri thức khoa học (Các phát hiện, lý thuyết, báo cáo nghiên cứu…)

  • Giải pháp kỹ thuật hoặc công nghệ mới (như quy trình sản xuất, thiết bị, phần mềm…)

  • Ứng dụng thực tiễn (như sản phẩm công nghệ, mô hình sản xuất thử nghiệm…)

  • Tài sản trí tuệ (như sáng chế, thiết kế, bản quyền nội dung tài liệu khoa học…).

Kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ có được bảo hộ quyền tác giả?

Theo Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ 2022, các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả bao gồm:

“Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ bao gồm:
 a) Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác; …”

Như vậy, kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ nếu được thể hiện dưới hình thức báo cáo, bài viết khoa học, luận án, luận văn, tài liệu nghiên cứu, bản thuyết minh đề tài, bài báo khoa học… thì được coi là tác phẩm khoa học và được bảo hộ quyền tác giả.

Lưu ý: Quyền tác giả bảo hộ hình thức thể hiện của kết quả nghiên cứu, chứ không bảo hộ bản thân ý tưởng, quy trình, phương pháp hay giải pháp kỹ thuật.

Ví dụ:

  • Bài báo khoa học đăng trên tạp chí sẽ được bảo hộ quyền tác giả.

  • Quy trình kỹ thuật mới trong bài báo đó sẽ không thuộc quyền tác giả mà có thể thuộc sáng chế (quyền sở hữu công nghiệp).
Quyền tác giả đối với kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ

Quy định về quyền tác giả đối với kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ

Trong hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, việc xác định ai là tác giả và quyền của tác giả đối với kết quả nghiên cứu là vấn đề có ý nghĩa pháp lý đặc biệt quan trọng. Đây là cơ sở để bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhà khoa học, đồng thời làm rõ ranh giới giữa quyền tác giả và quyền sở hữu kết quả nghiên cứu của cơ quan, tổ chức chủ trì.

Theo Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo 2025, người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ chính là tác giả của kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đó. Tác giả được hưởng các quyền theo quy định của luật này và các quy định pháp luật có liên quan, đặc biệt là Luật Sở hữu trí tuệ.

Người trực tiếp tiến hành hoạt động nghiên cứu, sáng tạo ra nội dung khoa học, giải pháp, báo cáo, tài liệu nghiên cứu vẫn được xác định là tác giả; dù nhiệm vụ nghiên cứu được thực hiện theo:

  • Đề tài cấp Nhà nước, cấp bộ, cấp cơ sở

  • Nhiệm vụ do trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp giao

  • Nhiệm vụ sử dụng ngân sách nhà nước hay kinh phí tư nhân

Điều này có nghĩa là tên của nhà khoa học phải được ghi nhận trên kết quả nghiên cứu, không phụ thuộc vào việc ai là chủ sở hữu kinh phí hay đơn vị chủ trì.

Quyền nhân thân của tác giả đối với kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ:

Theo Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ 2022, tác giả có các quyền nhân thân đối với tác phẩm như sau:

  • Đặt tên cho tác phẩm nghiên cứu

  • Đứng tên tác giả trên công trình nghiên cứu

  • Được nêu tên khi công bố, sử dụng kết quả nghiên cứu

  • Bảo vệ sự toàn vẹn nội dung nghiên cứu, không cho người khác sửa chữa, cắt xén, xuyên tạc

Đây là những quyền không thể chuyển giao cho bất kỳ tổ chức nào, kể cả cơ quan chủ trì đề tài.

Quyền tài sản có thể thuộc về tổ chức chủ trì đối với kết quả nghiên cứu khoa học , phát triển công nghệ:

Bên cạnh quyền nhân thân của tác giả, quyền tài sản đối với tác phẩm nghiên cứu lại phụ thuộc vào quan hệ giao nhiệm vụ.

Theo Điều 39 Luật Sở hữu trí tuệ: “Tổ chức giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc giao kết hợp đồng với tác giả là chủ sở hữu quyền tài sản đối với tác phẩm do tác giả sáng tạo trong khi thực hiện nhiệm vụ.”

Do đó, trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp hoặc cơ quan nhà nước có thể là chủ sở hữu quyền tài sản. Có quyền công bố, sao chép, khai thác, sử dụng kết quả nghiên cứu vào mục đích thương mại. Trong khi đó, nhà khoa học vẫn giữ nguyên quyền tác giả (quyền nhân thân).

Trên đây là bài viết “Quyền tác giả đối với kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ”. Hy vọng, cá nhân và tổ chức có thể hiểu rõ hơn về phạm vi bảo hộ, từ đó chủ động bảo vệ và khai thác hiệu quả giá trị của thành quả nghiên cứu.

Trân trọng,

Câu hỏi thường gặp

  1. 1. Ai là tác giả đối với kết quả nghiên cứu khoa học?

    Tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm. Trường hợp nghiên cứu theo nhiệm vụ được giao, quyền tài sản có thể thuộc về cơ quan, tổ chức, nhưng quyền nhân thân vẫn thuộc về người sáng tạo.

  2. 2. Ý tưởng nghiên cứu khoa học có được bảo hộ quyền tác giả không?

    Không. Quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức thể hiện của tác phẩm, không bảo hộ ý tưởng, phương pháp hay quy trình nghiên cứu.

Điều kiện khởi kiện vụ án dân sự về quyền tác giả, quyền liên quan

Khi quyền tác giả, quyền liên quan bị xâm phạm, khởi kiện vụ án dân sự là một trong những biện pháp pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp bị xâm phạm đều có thể khởi kiện ngay, mà phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự và pháp luật sở hữu trí tuệ. Bài viết dưới đây, VCD sẽ làm rõ các điều kiện khởi kiện vụ án dân sự về quyền tác giả, quyền liên quan.

Quyền khởi kiện vụ án dân sự về quyền tác giả, quyền liên quan

Căn cứ Điều 56 Nghị định 22/2018/NĐ-CP và được kế thừa, cập nhật tại Nghị định 17/2023/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan (Nghị định 17/2023), việc bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan được thực hiện như sau:

Chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan có thể trực tiếp thực hiện quyền của mình hoặc ủy quyền cho tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan hoặc cho tổ chức, cá nhân khác thay mặt mình thực hiện việc bảo vệ quyền. Chủ thể được ủy quyền có trách nhiệm công khai thông tin để các tổ chức, cá nhân có nhu cầu khai thác, sử dụng tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng liên hệ thỏa thuận về việc sử dụng.

Nội dung này cũng được ghi nhận tại Mục II.1 Thông tư liên tịch 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP khi quy định về quyền khởi kiện vụ án dân sự liên quan đến quyền tác giả, quyền liên quan.

Theo đó, các chủ thể có quyền khởi kiện bao gồm:

  • Tác giả; chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan; người thừa kế hợp pháp của tác giả hoặc của chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan; cá nhân, tổ chức được chuyển giao quyền từ chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan; cá nhân, tổ chức sử dụng tác phẩm theo hợp đồng; người biểu diễn; nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình; tổ chức phát sóng.

  • Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan; tổ chức, cá nhân khác được chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan ủy quyền khởi kiện.

  • Cơ quan nhà nước, tổ chức có liên quan, trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình, có quyền khởi kiện vụ án dân sự nhằm bảo vệ lợi ích công cộng hoặc lợi ích của Nhà nước trong lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan.
Điều kiện khởi kiện vụ án dân sự về quyền tác giả, quyền liên quan

Điều kiện khởi kiện vụ án dân sự về quyền tác giả, quyền liên quan

Điều kiện khởi kiện vụ án dân sự về quyền tác giả, quyền liên quan được quy định tại Khoản 1 Mục IIIA Thông tư liên tịch 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP, cụ thể như sau:

Điều kiện 1: Quyền tác giả, quyền liên quan đã phát sinh theo quy định của pháp luật

Quyền tác giả và quyền liên quan được xác lập theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ 2022.

“1. Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện d­ưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay ch­ưa công bố, đã đăng ký hay ch­ưa đăng ký.

2. Quyền liên quan phát sinh kể từ khi cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chư­ơng trình được mã hóa được định hình hoặc thực hiện mà không gây ph­ương hại đến quyền tác giả.”

Theo đó, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan có quyền nộp đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan theo Điều 49 Luật Sở hữu trí tuệ 2022.

Tuy nhiên, việc đăng ký này không phải là điều kiện bắt buộc để được pháp luật công nhận và bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan.

Trong trường hợp phát sinh tranh chấp và đương sự yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, Tòa án vẫn có trách nhiệm xem xét, giải quyết không phụ thuộc vào việc người khởi kiện đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký hay chưa, đã nộp đơn đăng ký hay chưa.

Điều kiện 2: Quyền tác giả, quyền liên quan vẫn còn trong thời hạn bảo hộ

Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan chỉ được thực hiện các quyền nhân thân và quyền tài sản của mình trong phạm vi và thời hạn bảo hộ do pháp luật quy định.

Thời hạn bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan được xác định theo:

  • Điều 27 và Điều 34 Luật Sở hữu trí tuệ 2022;

  • Điều 26, Nghị định 85/2011/NĐ-CP

Khi đã hết thời hạn bảo hộ (ngoại trừ các quyền nhân thân quy định tại khoản 1, 2 và 4 Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ), các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan không còn được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ án khi các quyền này vẫn đang trong thời hạn bảo hộ, trừ những quyền mà pháp luật không quy định thời hạn bảo hộ.

Trên đây là bài viết “Điều kiện khởi kiện vụ án dân sự về quyền tác giả, quyền liên quan”. Hy vọng những thông tin này sẽ giúp tác giả, chủ sở hữu quyền và các tổ chức, cá nhân liên quan hiểu rõ căn cứ pháp lý, điều kiện cần thiết trước khi tiến hành khởi kiện, từ đó bảo vệ hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật.

Trân trọng,

Câu hỏi thường gặp

  1. 1. Có bắt buộc phải đăng ký quyền tác giả mới được khởi kiện dân sự về quyền tác giả, quyền liên quan không?

    Không bắt buộc. Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định. Tuy nhiên, Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả là chứng cứ quan trọng giúp việc chứng minh quyền sở hữu thuận lợi hơn khi khởi kiện.

  2. 2 Nếu thiếu một trong các điều kiện khởi kiện dân sự về quyền tác giả, quyền liên quan thì sao?


    Trong trường hợp chưa đáp ứng đầy đủ điều kiện, Tòa án có thể yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ hoặc trả lại đơn khởi kiện. Vì vậy, việc rà soát kỹ điều kiện pháp lý trước khi nộp đơn là rất cần thiết để tránh mất thời gian và công sức.

Các tác phẩm thể hiện dưới dạng ký tự có được bảo hộ quyền tác giả không?

Không ít người cho rằng chỉ những tác phẩm có hình thức trình bày cầu kỳ hoặc được in ấn thành sách mới được bảo hộ quyền tác giả. Tuy nhiên, với sự phát triển mạnh mẽ của môi trường số, ngày càng nhiều tác phẩm được sáng tạo và thể hiện đơn thuần dưới dạng ký tự như bài viết, giáo trình, kịch bản, nội dung website, tài liệu điện tử. Vậy các tác phẩm thể hiện dưới dạng ký tự có được bảo hộ quyền tác giả không? Cùng VCD tìm hiểu trong bài viết dưới đây nhé!

Tác phẩm thể hiện dưới dạng ký tự

Hiện nay, pháp luật không có khái niệm riêng biệt về “tác phẩm thể hiện dưới dạng ký tự”. Tuy nhiên, có thể hiểu tác phẩm thể hiện dưới dạng ký tự là những tác phẩm được sáng tạo và thể hiện thông qua hệ thống chữ viết, ký hiệu, con số, mã hóa… có thể đọc, nhận biết và lưu trữ dưới dạng văn bản.

Các tác phẩm này bao gồm nhưng không giới hạn ở:

  • Bài viết văn học, truyện ngắn, tiểu thuyết

  • Bài báo, bài SEO, nội dung website

  • Giáo trình, bài giảng, tài liệu đào tạo

  • Kịch bản phim, kịch bản quảng cáo

  • Báo cáo nghiên cứu, luận văn

  • Nội dung số được thể hiện bằng ký tự (PDF, Word, HTML…)

Điểm chung của các tác phẩm trên là đều được thể hiện thông qua ký tự và có thể xác định được hình thức vật chất, dù là trên giấy hay trên file điện tử.

Các tác phẩm thể hiện dưới dạng ký tự có được bảo hộ quyền tác giả không?

Các tác phẩm thể hiện dưới dạng ký tự có được bảo hộ quyền tác giả không?

Theo khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ 2022 quy định: “Tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định, không phân biệt phương tiện, ngôn ngữ, hình thức thể hiện, chất lượng, số lượng.”

Quy định này cho thấy, pháp luật Việt Nam không đặt ra bất kỳ sự giới hạn nào về hình thức thể hiện của tác phẩm khi xem xét bảo hộ quyền tác giả. Nói cách khác, việc một tác phẩm được thể hiện bằng chữ viết, ký tự, con số, ký hiệu hay được trình bày trên giấy, trên môi trường số hoặc dưới dạng dữ liệu điện tử không phải là căn cứ để loại trừ khả năng được bảo hộ.

Theo đó, để một tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả, pháp luật chỉ yêu cầu đáp ứng các điều kiện cơ bản sau:

  • Tác phẩm phải thuộc lĩnh vực văn học, nghệ thuật hoặc khoa học: Đây là phạm vi bảo hộ chung mà Luật Sở hữu trí tuệ đặt ra cho các đối tượng được hưởng quyền tác giả.

  • Tác phẩm phải được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định: Hình thức vật chất ở đây được hiểu rất rộng, bao gồm văn bản in ấn trên giấy, tệp tin điện tử, nội dung đăng tải trên website, tài liệu lưu trữ dưới dạng số hóa… Chỉ cần tác phẩm có thể được nhận biết, sao chép hoặc truyền đạt thì đã được coi là có hình thức vật chất.

Trong khi đó, các tác phẩm dưới dạng ký tự rõ ràng thuộc nhóm tác phẩm văn học hoặc khoa học và được thể hiện thông qua văn bản in ấn hoặc file điện tử.

Như vậy, tác phẩm thể hiện dưới dạng ký tự hoàn toàn được bảo hộ quyền tác giả theo quy định của pháp luật Việt Nam, không phụ thuộc vào việc tác phẩm được viết tay, đánh máy, đăng tải trên Internet hay lưu trữ dưới dạng dữ liệu số.

Ngay khi tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định, quyền tác giả phát sinh một cách tự động, không bắt buộc phải đăng ký. Trong trường hợp quyền tác giả bị xâm phạm, tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm dạng ký tự có đầy đủ căn cứ pháp lý để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ.

Phạm vi bảo hộ và quyền của tác giả đối với tác phẩm dạng ký tự

Việc tác phẩm dạng ký tự được bảo hộ quyền tác giả đồng nghĩa với việc tác giả được pháp luật ghi nhận và bảo vệ các quyền gắn liền với tác phẩm đó. Do vậy, cần làm rõ phạm vi bảo hộ cũng như các quyền mà tác giả được hưởng để tránh những nhầm lẫn trong quá trình sử dụng và khai thác tác phẩm.

Phạm vi bảo hộ

Theo Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ 2022: “Quyền tác giả phát sinh kể từ thời điểm tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định.”

Như vậy, khi tác phẩm dạng ký tự đáp ứng đủ điều kiện bảo hộ, quyền tác giả phát sinh tự động, không phụ thuộc vào việc đăng ký.

Các quyền của tác giả tác phẩm dưới dạng ký tự

Quyền nhân thân của tác giả tác phẩm dưới dạng ký tự:

  • Đặt tên cho tác phẩm

  • Đứng tên thật hoặc bút danh

  • Công bố hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm

  • Bảo vệ sự toàn vẹn của nội dung tác phẩm

Quyền tài sản của tác giả tác phẩm dưới dạng ký tự:

  • Sao chép tác phẩm

  • Phân phối, truyền đạt đến công chúng

  • Cho thuê, khai thác thương mại

  • Cho phép người khác sử dụng có trả phí

Trong trường hợp bị sao chép, sử dụng trái phép bài viết, nội dung ký tự, tác giả có quyền:

  • Yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm

  • Yêu cầu xin lỗi, bồi thường

  • Khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền

Trên đây là bài viết “Các tác phẩm thể hiện dưới dạng ký tự có được bảo hộ quyền tác giả không?”. Hy vọng nội dung bài viết sẽ giúp tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả hiểu đúng phạm vi bảo hộ đối với tác phẩm thể hiện dưới dạng ký tự, từ đó chủ động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình sáng tạo, khai thác và sử dụng tác phẩm.

Trân trọng,

Câu hỏi thường gặp

  1. 1. Tác phẩm dạng ký tự có cần đăng ký mới được bảo hộ quyền tác giả không?

    Không. Quyền tác giả phát sinh tự động kể từ thời điểm tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định, không phụ thuộc vào việc đăng ký.

  2. 2. Những trường hợp nào tác phẩm thể hiện dưới dạng ký tự không được bảo hộ quyền tác giả?

    Một số đối tượng dù được thể hiện bằng ký tự nhưng không được bảo hộ quyền tác giả, bao gồm tin tức thời sự thuần túy, văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, quy trình, phương pháp hoạt động, số liệu và dữ kiện đơn thuần theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ.

Trường học có quyền đứng tên bản quyền bài giảng của giáo viên không?

Trong quá trình giảng dạy, giáo viên thường trực tiếp xây dựng bài giảng dựa trên kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm sư phạm và yêu cầu đào tạo của nhà trường. Tuy nhiên, khi các bài giảng này được sử dụng trong phạm vi hoạt động của cơ sở giáo dục, đặc biệt là trong mối quan hệ lao động giữa giáo viên và trường học, câu hỏi đặt ra là: quyền tác giả đối với bài giảng thuộc về giáo viên hay nhà trường, và trường học có thể đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền tác giả hay không. Bài viết của VCD dưới đây sẽ giúp bạn.

Bài giảng có phải là đối tượng được bảo hộ quyền tác giả không?

Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ, bài giảng là một trong những loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả nếu đáp ứng các điều kiện luật định. Cụ thể, khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi, bổ sung) quy định: tác phẩm khoa học, giáo trình, bài giảng và các tác phẩm khác được thể hiện dưới hình thức chữ viết, ký hiệu, hình ảnh, âm thanh hoặc phương tiện khác đều thuộc đối tượng được bảo hộ quyền tác giả.

Quyền tác giả đối với bài giảng chỉ phát sinh khi bài giảng được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định, chẳng hạn như giáo án in trên giấy, slide bài giảng điện tử, bài giảng ghi âm, ghi hình, bài giảng trực tuyến hoặc tài liệu giảng dạy lưu trữ trên hệ thống số. Ý tưởng giảng dạy, phương pháp truyền đạt hoặc nội dung kiến thức thuần túy chưa được thể hiện thành hình thức cụ thể thì chưa được coi là tác phẩm và không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả.

Bên cạnh đó, bài giảng được bảo hộ quyền tác giả không phụ thuộc vào việc đã đăng ký hay chưa đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Theo Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền tác giả phát sinh kể từ thời điểm tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định. Việc đăng ký bản quyền chỉ có ý nghĩa xác lập chứng cứ ban đầu khi xảy ra tranh chấp, chứ không phải là điều kiện để được bảo hộ.

Trong thực tiễn, các tài liệu như giáo án, slide PowerPoint, tài liệu phát cho học viên, bài giảng e-learning hoặc video bài giảng do giáo viên trực tiếp xây dựng đều được coi là tác phẩm và được bảo hộ quyền tác giả. Tuy nhiên, phạm vi bảo hộ chỉ áp dụng đối với hình thức thể hiện cụ thể của bài giảng, không bao gồm nội dung kiến thức chung, dữ liệu mang tính phổ biến hoặc chương trình đào tạo theo khung chuẩn do cơ quan có thẩm quyền ban hành.

Trường học có quyền đứng tên bản quyền bài giảng của giáo viên không?

Trường học có quyền đứng tên bản quyền bài giảng của giáo viên không?

Việc trường học có quyền đứng tên bản quyền bài giảng của giáo viên hay không phụ thuộc vào căn cứ xác lập quyền sở hữu đối với bài giảng, cụ thể:

  • Trường hợp giáo viên tự sáng tạo bài giảng bằng công sức cá nhân, không theo nhiệm vụ được giao và không có thỏa thuận khác, thì giáo viên vừa là tác giả, vừa là chủ sở hữu quyền tác giả. Khi đó, trường học không có quyền đứng tên chủ sở hữu nếu không có sự chuyển giao quyền hợp pháp.
  • Trường hợp bài giảng được sáng tạo theo nhiệm vụ do trường giao, hoặc được tạo ra trong khuôn khổ hợp đồng lao động, hợp đồng giảng dạy, hoặc có thỏa thuận bằng văn bản xác định trường học là chủ sở hữu quyền tác giả, thì trường học có quyền đứng tên là chủ sở hữu quyền tác giả, còn giáo viên vẫn được ghi nhận là tác giả.
  • Trường hợp giáo viên chuyển nhượng quyền sở hữu quyền tác giả cho trường học, thì sau khi hoàn tất thủ tục chuyển nhượng hợp pháp, trường học cũng có quyền đứng tên là chủ sở hữu trên Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả.

Như vậy, trường học không đương nhiên có quyền đứng tên bản quyền bài giảng của giáo viên, mà chỉ được đứng tên khi có căn cứ pháp lý rõ ràng theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.

Rủi ro pháp lý nếu trường học đứng tên bản quyền trái quy định

Thứ nhất, Giấy chứng nhận quyền tác giả có thể bị hủy bỏ hoặc điều chỉnh.

Theo Luật Sở hữu trí tuệ, Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả chỉ có giá trị khi thông tin về tác giả và chủ sở hữu được ghi nhận đúng chủ thể có quyền. Trường hợp trường học đứng tên trên Giấy chứng nhận trong khi không phải là chủ sở hữu hợp pháp thì cơ quan có thẩm quyền có thể thu hồi, hủy bỏ hoặc yêu cầu sửa đổi Giấy chứng nhận theo yêu cầu của người có quyền lợi liên quan.

Thứ hai, phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Nếu việc đứng tên chủ sở hữu trái quy định gây ảnh hưởng đến danh dự, uy tín, quyền nghề nghiệp hoặc quyền khai thác tác phẩm của giáo viên, trường học có thể phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật dân sự và pháp luật về sở hữu trí tuệ.

Thứ ba, rủi ro pháp lý trong quá trình khai thác và sử dụng tác phẩm.

Khi tư cách chủ thể quyền không hợp pháp, mọi hoạt động sử dụng, số hóa, cấp phép, chuyển giao hoặc khai thác bài giảng đều tiềm ẩn nguy cơ bị tranh chấp, dẫn đến đình chỉ sử dụng tác phẩm, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động đào tạo và uy tín của nhà trường.

Trên đây là bài viết “Trường học có quyền đứng tên bản quyền bài giảng của giáo viên không?” mà VCD gửi đến bạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Câu hỏi thường gặp

  1. Câu hỏi 1:Bài giảng do giáo viên xây dựng có mặc nhiên thuộc quyền sở hữu của trường học không?

    Không. Theo Luật Sở hữu trí tuệ, giáo viên là tác giả của bài giảng nếu trực tiếp sáng tạo ra nội dung. Trường học chỉ trở thành chủ sở hữu quyền tác giả khi bài giảng được tạo ra theo nhiệm vụ được giao và có thỏa thuận hoặc căn cứ pháp luật xác lập quyền sở hữu cho nhà trường.

  2. Câu hỏi 2: Trường học có được đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền tác giả đối với bài giảng của giáo viên không?

    Có, nhưng chỉ trong trường hợp trường học là chủ sở hữu quyền tác giả, chẳng hạn khi bài giảng được sáng tạo theo hợp đồng lao động, nhiệm vụ chuyên môn hoặc có văn bản chuyển giao quyền từ giáo viên cho nhà trường theo quy định pháp luật.

Đăng trích đoạn tác phẩm không thu phí có vi phạm quyền tác giả không?

Việc đăng tải các trích đoạn tác phẩm trên website và mạng xã hội hiện nay diễn ra khá phổ biến. Tuy nhiên, nhiều người vẫn cho rằng chỉ cần không nhằm mục đích thu lợi thì sẽ không phát sinh vi phạm quyền tác giả. Vậy đăng trích đoạn tác phẩm không thu phí có vi phạm quyền tác giả không?, cùng VCD tìm hiểu trong bài viết dưới đây nhé!

Trích đoạn tác phẩm là gì?

Hiện nay, pháp luật không đưa ra khái niệm riêng về “trích đoạn tác phẩm”. Tuy nhiên, có thể hiểu, trích đoạn tác phẩm là việc sử dụng một phần nội dung của tác phẩm đã được bảo hộ quyền tác giả (văn học, nghệ thuật, khoa học…) dưới bất kỳ hình thức nào như sao chép, đăng tải, chia sẻ, trình chiếu…

Các dạng trích đoạn tác phẩm phổ biến gồm:

  • Trích đoạn sách, truyện, bài báo

  • Trích đoạn lời bài hát, bản nhạc

  • Trích đoạn phim, chương trình truyền hình

  • Trích đoạn bài nghiên cứu, giáo trình

Việc trích đoạn dù ngắn hay dài, có thu phí hay không, đều là hành vi sử dụng tác phẩm theo pháp luật về quyền tác giả.

Đăng trích đoạn tác phẩm không thu phí có vi phạm quyền tác giả không?

Nguyên tắc chung về quyền tác giả khi sử dụng tác phẩm

Theo khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2022: “Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.”

Về nguyên tắc, khi tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm của người khác, phải xin phép tác giả/chủ sở hữu quyền tác giả và trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác (Trừ trường hợp pháp luật có quy định ngoại lệ).

Vì vậy việc không thu phí khi đăng tải hoặc sử dụng tác phẩm không đồng nghĩa với quyền tự do sử dụng tác phẩm, và cũng không loại trừ nguy cơ vi phạm quyền tác giả nếu không thuộc các trường hợp ngoại lệ theo luật định.

Đăng trích đoạn tác phẩm không thu phí có vi phạm quyền tác giả không?

Không phải mọi hành vi đăng trích đoạn tác phẩm không thu phí đều vi phạm quyền tác giả. Pháp luật quy định một số trường hợp ngoại lệ cho phép sử dụng tác phẩm trong phạm vi nhất định. Ngược lại, nếu ngoài phạm vi sẽ bị vi phạm và xử phạt. Dưới đây là các trường hợp cụ thể:

Trường hợp được đăng trích đoạn tác phẩm không thu phí không bị vi phạm

  • Trích dẫn hợp lý vì mục đích thông tin, bình luận, nghiên cứu: Theo điểm a khoản 1 Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ 2022: “Trích dẫn hợp lý tác phẩm để bình luận, minh họa trong tác phẩm của mình, với điều kiện phải ghi rõ tên tác giả và nguồn gốc xuất xứ của tác phẩm.” Như vậy, đăng trích đoạn không thu phí sẽ không vi phạm nếu chỉ trích một phần hợp lý, không làm thay thế tác phẩm gốc; mục đích là bình luận, phân tích, minh họa, nghiên cứu; ghi rõ tên tác giả, nguồn tác phẩm; không gây ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường của tác phẩm. Ví dụ hợp pháp: Trích một đoạn ngắn trong sách để phân tích nội dung; trích một phần bài báo để bình luận, phản biện; trích đoạn nghiên cứu khoa học phục vụ giảng dạy, học tập.

  • Sử dụng tác phẩm cho mục đích giáo dục, giảng dạy không thương mại: Theo điểm d khoản 1 Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ: “Sử dụng tác phẩm trong hoạt động giảng dạy, học tập không nhằm mục đích thương mại.” Trong trường hợp này, không thu phí, không nhằm mục đích kinh doanh, không cắt ghép, xuyên tạc nội dung tác phẩm thì việc đăng trích đoạn có thể không bị coi là vi phạm.

Trường hợp đăng trích đoạn không thu phí nhưng vẫn vi phạm quyền tác giả

Không phải cứ đăng trích đoạn tác phẩm “không thu tiền” là an toàn pháp lý. Nhiều trường hợp vẫn bị coi là xâm phạm quyền tác giả, như:

  • Trích đoạn quá dài, làm thay thế tác phẩm gốc: Bạn đăng nhiều chương sách; đăng phần “hay nhất”, “cao trào” của phim, truyện; tổng hợp trích đoạn đủ để người xem không cần tiếp cận bản gốc.
  • Không ghi tên tác giả, nguồn tác phẩm: Theo luật, ghi rõ tên tác giả và nguồn gốc là điều kiện bắt buộc. Nếu không đáp ứng điều kiện này sẽ vi phạm quyền nhân thân của tác giả.
  • Đăng trích đoạn để thu hút traffic, quảng cáo gián tiếp: Website không thu phí đọc nhưng gắn quảng cáo, bán sản phẩm, dịch vụ. Đây được xem là mục đích thương mại gián tiếp, vẫn phải xin phép và trả tiền tác quyền.

Một số lưu ý quan trọng khi đăng trích đoạn tác phẩm

Để hạn chế rủi ro pháp lý và tránh hành vi xâm phạm quyền tác giả, cá nhân và tổ chức khi đăng trích đoạn tác phẩm cần đặc biệt lưu ý các vấn đề sau:

  • Chỉ trích dẫn trong phạm vi cần thiết, phù hợp với mục đích sử dụng, không làm thay thế hoặc ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường của tác phẩm gốc.

  • Ghi rõ tên tác giả và nguồn gốc tác phẩm, bảo đảm tôn trọng đầy đủ quyền nhân thân của tác giả theo quy định pháp luật.

  • Không sử dụng trích đoạn cho mục đích thương mại hoặc quảng bá sản phẩm, dịch vụ khi chưa được sự đồng ý của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả.

  • Không chỉnh sửa, cắt ghép, xuyên tạc nội dung tác phẩm, làm sai lệch ý nghĩa, tinh thần của tác phẩm gốc.

  • Trong trường hợp còn băn khoăn về phạm vi sử dụng, nên chủ động xin phép chủ sở hữu quyền tác giả bằng văn bản để đảm bảo an toàn pháp lý.

Trên đây là bài viết “Đăng trích đoạn tác phẩm không thu phí có vi phạm quyền tác giả không?”. VCD hy vọng bạn sẽ hiểu rõ hơn các quy định của pháp luật về quyền tác giả, nhận diện đúng những trường hợp được phép sử dụng trích đoạn tác phẩm cũng như những hành vi có thể bị coi là vi phạm.

Trân trọng,

Câu hỏi thường gặp

  1. 1. Không ghi tên tác giả khi đăng trích đoạn tác phẩm có vi phạm không?

     Có. Việc không ghi tên tác giả và nguồn gốc tác phẩm có thể bị coi là xâm phạm quyền nhân thân của tác giả, kể cả khi không thu phí.

  2. 2. Đăng trích đoạn tác phẩm để thu hút lượt xem cho website có phải xin phép không?

    Nếu việc đăng tải trích đoạn tác phẩm lên website là nhằm mục đích thương mại. Do đó, người sử dụng tác phẩm vẫn phải xin phép và trả tiền tác quyền theo quy định.



Viết lại cái kết của tác phẩm có vi phạm quyền tác giả không?

Viết lại cái kết của một tác phẩm là hành vi khá phổ biến trong sáng tác, học tập… Tuy nhiên, không ít người thắc mắc liệu viết lại cái kết của tác phẩm có vi phạm quyền tác giả không, nhất là khi tác phẩm gốc vẫn còn được bảo hộ. Để trả lời chính xác, cần đặt hành vi này trong mối liên hệ với quyền làm tác phẩm phái sinh, phạm vi sử dụng hợp pháp và các giới hạn mà pháp luật sở hữu trí tuệ cho phép.

Quyền tác giả đối với tác phẩm được hiểu như thế nào?

Theo khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022: “Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.” Quyền tác giả phát sinh tự động kể từ thời điểm tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định, không phụ thuộc vào việc đăng ký.

Một tác phẩm văn học, điện ảnh, sân khấu… được bảo hộ toàn bộ nội dung, bao gồm:

  • Cốt truyện
  • Nhân vật
  • Diễn biến
  • Phần kết
  • Hình thức thể hiện sáng tạo

Do đó, cái kết của tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả như các yếu tố sáng tạo khác, và mọi hành vi khai thác, sửa đổi hoặc sử dụng phần kết này đều cần được xem xét cẩn trọng dưới góc độ quyền tác giả theo quy định của pháp luật.

Viết lại cái kết của tác phẩm là hành vi gì về mặt pháp lý?

Việc viết lại cái kết của một tác phẩm đã có sẵn thường được xếp vào một trong các hành vi sau:

  • Làm tác phẩm phái sinh
  • Cải biên, sửa đổi tác phẩm
  • Chuyển thể hoặc sáng tạo dựa trên tác phẩm gốc

Theo khoản 8 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2022: “Tác phẩm phái sinh là tác phẩm được sáng tạo trên cơ sở một hoặc nhiều tác phẩm đã có.”

Ví dụ:

  • Viết lại cái kết khác cho một tiểu thuyết nổi tiếng
  • Thay đổi kết cục số phận của nhân vật

Như vậy, tất cả các trường hợp này đều có dấu hiệu là tác phẩm phái sinh.

Viết lại cái kết của tác phẩm có vi phạm quyền tác giả không?

Viết lại cái kết của tác phẩm có vi phạm quyền tác giả không?

Việc viết lại cái kết có thể hợp pháp trong một số trường hợp, nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ vi phạm quyền tác giả nếu không đáp ứng đúng điều kiện theo Luật Sở hữu trí tuệ. Phần nội dung dưới đây sẽ làm rõ những trường hợp bị coi là vi phạm và không bị coi là vi phạm để bạn tránh rủi ro pháp lý.

Trường hợp viết lại cái kết của tác phẩm bị vi phạm quyền tác giả

Viết lại cái kết có nguy cơ vi phạm quyền tác giả nếu rơi vào một trong các trường hợp sau:

  • Không được sự cho phép của tác giả/chủ sở hữu quyền tác giả: Theo Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ 2022, chủ sở hữu quyền tác giả có quyền: “Làm tác phẩm phái sinh”. Như vậy, việc viết lại cái kết, nếu bị coi là tác phẩm phái sinh thì bắt buộc phải có sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả, trừ các trường hợp ngoại lệ do luật quy định.
  • Nội dung vẫn dựa chặt vào cốt truyện, nhân vật, thế giới tác phẩm gốc. Nếu nhân vật không thay đổi; bối cảnh, mạch truyện giữ nguyên; chỉ thay đổi kết cục… sẽ bị coi là xâm phạm quyền làm tác phẩm phái sinh.
  • Công bố công khai hoặc khai thác thương mại: Nếu bạn sử dụng để đăng tải lên website, mạng xã hội; phát hành sách, truyện, phim; kiếm tiền từ nội dung viết lại. Trong trường hợp này, chủ sở hữu quyền tác giả có quyền yêu cầu gỡ bỏ, bồi thường thiệt hại hoặc xử phạt hành chính.

Trường hợp viết lại cái kết của tác phẩm không bị coi là vi phạm quyền tác giả

Không phải mọi hành vi viết lại cái kết đều vi phạm pháp luật. Một số trường hợp sau có thể được chấp nhận:

  • Tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ quyền tác giả: Theo Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ, thời hạn bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm tiếp theo sau khi tác giả qua đời. Nếu tác phẩm đã thuộc phạm vi công cộng, bạn có quyền tự do khai thác, bao gồm việc viết lại cái kết.
  • Viết cho mục đích nghiên cứu, học tập, phân tích cá nhân: Theo Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ 2022, một số hành vi sử dụng tác phẩm không phải xin phép, không phải trả tiền, bao gồm: “Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận, minh họa trong tác phẩm của mình.” Tuy nhiên, không được công bố như một tác phẩm độc lập, không làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường của tác phẩm gốc.
  • Nội dung sáng tạo mới, không phụ thuộc vào tác phẩm gốc: Nếu bạn chỉ lấy cảm hứng chung, không sử dụng nhân vật, cốt truyện, tình tiết đặc trưng. Đây có thể được coi là tác phẩm độc lập, không vi phạm quyền tác giả.

Trên đây là Viết lại cái kết của tác phẩm có vi phạm quyền tác giả không?” mà VCD muốn chia sẻ tới bạn. Để tránh rủi ro pháp lý, cá nhân và tổ chức nên hiểu rõ các quy định về tác phẩm phái sinh, tôn trọng quyền tác giả và xin phép khi khai thác tác phẩm trong những trường hợp pháp luật yêu cầu.

Trân trọng,

Câu hỏi thường gặp

  1. 1. Viết lại cái kết để học tập, nghiên cứu cá nhân có vi phạm không?

    Nếu chỉ phục vụ mục đích học tập, nghiên cứu, không nhằm mục đích thương mại và không công bố rộng rãi, hành vi này thường không bị coi là xâm phạm quyền tác giả theo các giới hạn sử dụng hợp lý.

  2. 2. Đăng công khai cái kết viết lại trên mạng xã hội có rủi ro pháp lý không?

    Có. Việc công bố công khai cái kết viết lại khi chưa được sự đồng ý của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả gốc có thể bị xem là xâm phạm quyền tác giả, đặc biệt nếu nội dung vẫn dựa nhiều vào tác phẩm gốc.



Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết đối với tranh chấp quyền tác giả?

Khi quyền tác giả bị xâm phạm, việc khởi kiện ra Tòa án là giải pháp pháp lý quan trọng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm. Tuy nhiên, để vụ việc được thụ lý và giải quyết đúng trình tự, điều kiện tiên quyết là phải xác định đúng Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyền tác giả. Bài viết dưới đây, VCD sẽ giúp bạn giải đáp chi tiết!

Tranh chấp quyền tác giả là gì?

Pháp luật hiện hành chưa có khái niệm định nghĩa trực tiếp về “tranh chấp quyền tác giả”. Tuy nhiên, căn cứ khoản 1 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2022: “Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.”

Từ đó có thể hiểu, tranh chấp quyền tác giả là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể liên quan đến:

  • Quyền nhân thân của tác giả;
  • Quyền tài sản đối với tác phẩm;
  • Quyền sử dụng, khai thác, chuyển nhượng, thừa kế quyền tác giả;
  • Hành vi xâm phạm quyền tác giả.

Ví dụ: Tranh chấp về sao chép tác phẩm trái phép, sử dụng tác phẩm không xin phép, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, tranh chấp ai là tác giả thực sự của tác phẩm…

Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết đối với tranh chấp quyền tác giả?

Các hình thức giải quyết tranh chấp quyền tác giả

Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ và pháp luật tố tụng, tranh chấp quyền tác giả có thể được giải quyết bằng các phương thức:

  • Thương lượng;
  • Hòa giải;
  • Xử lý hành chính;
  • Trọng tài (nếu có thỏa thuận);
  • Khởi kiện tại Tòa án.

Trong đó, Tòa án là cơ quan có thẩm quyền giải quyết toàn diện, triệt để nhất, đặc biệt đối với các tranh chấp phức tạp, có yêu cầu bồi thường thiệt hại lớn hoặc xác định quyền sở hữu tác phẩm.

Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết đối với tranh chấp quyền tác giả?

Việc xác định Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyền tác giả được căn cứ chủ yếu vào:

  • Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
  • Luật Sở hữu trí tuệ 2022;
  • Các văn bản hướng dẫn thi hành.

Theo Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015: “Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Như vậy, tranh chấp quyền tác giả là một dạng tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân.

Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh trong tranh chấp quyền tác giả

Theo khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền sơ thẩm đối với: “Tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài; tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện nhưng có tính chất phức tạp hoặc theo yêu cầu của đương sự.”

Đối với tranh chấp quyền tác giả, Tòa án nhân dân cấp tỉnh thường có thẩm quyền trong các trường hợp:

  • Có yếu tố nước ngoài (tác giả, chủ sở hữu là người nước ngoài; tác phẩm được khai thác ở nước ngoài…);
  • Tranh chấp phức tạp, giá trị lớn;
  • Có yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
  • Theo quy định riêng của pháp luật về sở hữu trí tuệ.

Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện trong tranh chấp quyền tác giả

Theo khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các tranh chấp dân sự, trừ những tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh.

Trong thực tế, Tòa án nhân dân cấp huyện có thể giải quyết các tranh chấp quyền tác giả:

  • Có tính chất đơn giản;
  • Các bên đều là cá nhân, tổ chức trong nước;
  • Không có yếu tố nước ngoài;
  • Không thuộc trường hợp pháp luật quy định phải do Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết.

Một số lưu ý khi khởi kiện tranh chấp quyền tác giả tại Tòa án

Khởi kiện tranh chấp quyền tác giả tại Tòa án là một quá trình pháp lý đòi hỏi người khởi kiện phải chuẩn bị kỹ lưỡng cả về hồ sơ, chứng cứ lẫn chiến lược bảo vệ quyền lợi. Để vụ việc được Tòa án thụ lý và giải quyết thuận lợi, người khởi kiện cần đặc biệt lưu ý một số vấn đề quan trọng sau đây:

  • Chuẩn bị chứng cứ chứng minh quyền tác giả (bản gốc tác phẩm, giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, hợp đồng, tài liệu sáng tạo…);
  • Xác định đúng bị đơn và Tòa án có thẩm quyền;
  • Xác định rõ yêu cầu khởi kiện (xác lập quyền, bồi thường, chấm dứt vi phạm…);
  • Thời hiệu khởi kiện theo quy định của pháp luật dân sự;
  • Có thể yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để ngăn chặn hành vi xâm phạm tiếp diễn.

Trên đây là những nội dung cơ bản làm rõ “Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết đối với tranh chấp quyền tác giả?” theo quy định của pháp luật hiện hành. Việc xác định đúng cơ quan có thẩm quyền ngay từ đầu không chỉ giúp quá trình khởi kiện được thực hiện thuận lợi, đúng trình tự mà còn góp phần bảo vệ hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án.

Trân trọng,

Câu hỏi thường gặp

  1. 1. Có cần đăng ký quyền tác giả trước khi khởi kiện không?

    Việc đăng ký quyền tác giả không phải là điều kiện bắt buộc để khởi kiện. Tuy nhiên, Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả là chứng cứ quan trọng, giúp việc chứng minh quyền tại Tòa án thuận lợi hơn.

  2. 2. Tòa án có thể áp dụng biện pháp gì khi giải quyết tranh chấp quyền tác giả?

    Tòa án có thể buộc chấm dứt hành vi xâm phạm, yêu cầu bồi thường thiệt hại, xin lỗi, cải chính công khai và áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để ngăn chặn hành vi vi phạm tiếp diễn.

Câu hỏi: