Chuyển đến nội dung chính

Thẻ: tác phẩm âm nhạc

Nhạc sĩ sáng tác bài hát được phổ nhạc từ thơ có phải xin phép và trả tiền nhuận bút cho tác giả bài thơ hay không?

Nhạc sĩ sáng tác bài hát được phổ nhạc từ thơ có phải xin phép và trả tiền nhuận bút cho tác giả bài thơ hay không?

Không ít nhà thơ cảm thấy vui mừng khi tác phẩm của mình được phổ nhạc. Từ sự “kết giao” này nhiều bài hát được ra đời, trở thành những ca khúc được nhiều khán giả yêu thích. Tuy nhiên, trước khi các nhạc sĩ phổ nhạc vào những bài thơ, họ có cần sự chấp thuận của tác giả bài thơ đó hay không và có phải trả tiền bản quyền cho họ không? Mời bạn đọc theo dõi bài viết của VCD để biết thêm thông tin.

1. Bài hát phổ nhạc từ thơ là gì? Có phải tác phẩm phái sinh không?

Trong văn chương Việt Nam vốn giàu nhạc tính với âm thanh trầm bổng nên lẩn trong thơ là nhạc. Các loại văn vần trong văn chương nước ta như lục bát, song thất lục bát, hát nói đều đi đôi với ngâm vịnh, xướng hát. Những điệu dân ca như hát ru, hò cũng hay mượn ca dao làm lời.

Do đó, phổ nhạc là nghệ thuật dựa theo lời và ý của bài thơ mà viết thành bài nhạc. Dựa trên lời thơ, bằng sự rung cảm nghệ thuật, các nhạc sĩ không ngừng sáng tạo nên sức sống cho âm nhạc. Điều dễ nhận thấy, các nhạc sĩ khá trung thành với nguyên bản, tên bài thơ đồng thời là tên ca khúc. Nhạc sĩ thường bắt được cái hồn của thơ, không lấy nguyên mẫu từng câu từng chữ, mà chọn lựa sử dụng những câu, những đoạn phù hợp với ý tưởng của mình.

Theo Khoản 8 Điều 4 Luật SHTT “Tác phẩm phái sinh là tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn.”

Vậy, tác phẩm nhạc phổ thơ là tác phẩm phái sinh và được bảo hộ theo quy định của pháp luật khi và chỉ khi việc phổ nhạc vào thơ không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm gốc.

2. Có phải xin phép và trả tiền thù lao cho nhà thơ khi phổ nhạc vào thơ không?

Theo quy định của luật SHTT, tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản và quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả.

Mà quyền tài sản được quy định tại Điều 20 Luật SHTT bao gồm:

  • Làm tác phẩm phái sinh;
  • Biểu diễn tác phẩm trước công chúng;
  • Sao chép tác phẩm;
  • Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;
  • Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác;
  • Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính

Vậy nên việc phổ nhạc vào thơ để sáng tạo nên tác phẩm mới cần có sự đồng ý của chủ sở hữu tác phẩm gốc thì mới được làm, đồng thời, phải trả tiền nhuận bút, thù lao và các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả của bài thơ.

Trên đây là bài viết “Nhạc sĩ sáng tác bài hát được phổ nhạc từ thơ có phải xin phép và trả tiền nhuận bút cho tác giả bài thơ hay không?”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí khi sử dụng các tác phẩm âm nhạc trong thời gian mở cửa kinh doanh có phải trả tiền bản quyền hay không?

Cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí khi sử dụng các tác phẩm âm nhạc trong thời gian mở cửa kinh doanh có phải trả tiền bản quyền hay không?

Khách sạn, nhà hàng, quán cà phê, siêu thị, khu vui chơi giải trí trong thời gian mở cửa kinh doanh thường không thể thiếu được việc sử dụng các tác phẩm âm nhạc để tạo không khí, tăng thêm điểm nhấn, giúp thu hút và tạo sự thoải mái, dễ chịu, vui vẻ cho khách hàng. Việc sử dụng những bản nhạc phù hợp trong mỗi một không gian có chủ đề nhất định là một phương pháp tăng chất lượng dịch vụ, gây ấn tượng với khách hàng, khiến khách hàng mua hàng nhiều hơn, sử dụng nhiều dịch vụ hơn và có trải nghiệm tốt, sẵn sàng để quay lại lần sau. Có thể kể đến hai hình thức thường thấy hiện nay là sử dụng bản ghi âm, ghi hình để phát nhạc nền và trực tiếp biểu diễn tại cơ sở kinh doanh. Việc sử dụng các tác phẩm âm nhạc vì mục đích thương mại như trên liệu có phải trả tiền bản quyền hay không, chúng tôi xin được làm rõ trong bài viết dưới đây.

1. Quy định của pháp luật về việc sử dụng bản ghi âm, ghi hình vì mục đích thương mại

Theo Điều 33 Luật Sở hữu trí tuệ, các trường hợp sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền, phải thông tin về bản ghi âm, ghi hình bao gồm:

  • Tổ chức, cá nhân sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại để phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào;
  • Tổ chức, cá nhân sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại để phát sóng không có tài trợ, quảng cáo hoặc không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào;
  • Tổ chức, cá nhân sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại trong hoạt động kinh doanh, thương mại.

Điều 32 Nghị định 22/2018/NĐ-CP đã giải thích cụ thể về các trường hợp nêu trên, trong đó  trường hợp sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã được công bố trong hoạt động kinh doanh, thương mại là việc tổ chức, cá nhân sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình đã được công bố để sử dụng tại nhà hàng, khách sạn, cửa hàng, siêu thị; cơ sở kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ bưu chính, viễn thông, môi trường kỹ thuật số; trong các hoạt động du lịch, hàng không, giao thông công cộng.

Như vậy, cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí khi sử dụng các tác phẩm âm nhạc trong thời gian mở cửa kinh doanh buộc phải trả tiền bản quyền cho người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng kể từ khi sử dụng. Mức tiền bản quyền và phương thức thanh toán do các bên thỏa thuận, trong trường hợp không đạt được thỏa thuận thì thực hiện theo quy định của Chính phủ. Đồng thời, việc sử dụng bản ghi âm, ghi hình như trên không được mâu thuẫn với việc khai thác bình thường cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng và không được gây thiệt hại một cách bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng.

Tuy nhiên, liệu khi những cơ sở kinh doanh này đã mua băng, đĩa gốc có bản quyền, các bản ghi âm, ghi hình được phát hành trực tuyến một cách hợp pháp để phát nhạc nền trong lúc mở cửa kinh doanh thì có phải trả thêm tiền bản quyền do sử dụng tác phẩm trong hoạt động kinh doanh nữa không? Bởi lẽ, có sự khác nhau về bản chất giữa việc nghe, xem tác phẩm thông thường và sử dụng trong hoạt động kinh doanh để tạo ra lợi nhuận, tiền mua bản quyền cũng có sự chênh lệch không nhỏ. Trên thực tế, pháp luật Việt Nam chưa có quy định rõ ràng về vấn đề này. Do đó, các doanh nghiệp và chủ sở hữu hợp pháp bản ghi âm, ghi hình nên chủ động tìm hiểu và liên hệ với nhau để thỏa thuận về tiền bản quyền.

2. Quy định về biểu diễn tác phẩm âm nhạc

Theo Điều 25 Khoản 1 điểm g Luật Sở hữu trí tuệ, sử dụng tác phẩm đã công bố để biểu diễn tác phẩm sân khấu, âm nhạc, múa và các loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các buổi sinh hoạt văn hóa, hoạt động tuyên truyền cổ động không nhằm mục đích thương mại thì không phải xin phép, không phải trả tiền bản quyền nhưng phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm.

Quyền biểu diễn tác phẩm là một trong những quyền tài sản thuộc quyền tác giả. Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả có quyền “Biểu diễn tác phẩm trước công chúng trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các bản ghi âm, ghi hình hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào tại địa điểm mà công chúng có thể tiếp cận được nhưng công chúng không thể tự do lựa chọn thời gian và từng phần tác phẩm” (Điều 20 Khoản 1 điểm b Luật Sở hữu trí tuệ).

Đồng thời, tại Điều 20 Khoản 2 Luật Sở hữu trí tuệ cũng quy định rằng tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng quyền biểu diễn phải được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả và trả tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác (nếu có) cho chủ sở hữu quyền tác giả.

Từ các quy định trên, việc các cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí tổ chức những buổi biểu diễn âm nhạc không phải xin phép, không phải trả tiền bản quyền chỉ khi buổi biểu diễn đó mang tính chất sinh hoạt văn hóa, hoạt động tuyên truyền cổ động không nhằm mục đích thương mại. Còn lại, việc những cơ sở kinh doanh trên tổ chức biểu diễn âm nhạc kể cả có thu phí hay không thu phí, nhằm mục đích thu hút nhiều khách hàng tới sử dụng dịch vụ để thu lợi nhuận thì phải được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả và trả tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác (nếu có) cho chủ sở hữu quyền tác giả.

Trên đây là bài viết “Cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí khi sử dụng các tác phẩm âm nhạc trong thời gian mở cửa kinh doanh có phải trả tiền bản quyền hay không?”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Nhạc remix có được đăng ký bản quyền tác giả không?

Nhạc remix có được đăng ký bản quyền tác giả không?

Khi những ca khúc đã cũ hoặc nghe nhiều đến mức nhàm chán, giới trẻ có xu hướng phối khí hòa âm (remix) lại tạo ra một phiên bản khác của bài hát, khi đươc remix, các ca khúc sẽ có chất lượng âm thanh tốt hơn, gây ấn tượng với khán giả hơn. Các bạn trẻ luôn thích sự độc lạ và mới mẻ, nên những bản nhạc Remix luôn thu hút, hấp dẫn nhiều giới trẻ hiện nay đồng thời cũng phù hợp với thị trường và xu hướng âm nhạc trong thời điểm bây giờ. Tuy nhiên, những ca khúc remix như vậy có được đăng ký bản quyền không, mời các bạn theo dõi bài viết dưới đây của VCD để biết thêm chi tiết.

1. Nhạc remix là gì?

Dòng nhạc Remix chắc chắn không còn xa lạ gì với giới trẻ hiện nay bởi với giai điệu sôi động, vui tươi và nhộn nhịp khác biệt hẳn với những dòng nhạc truyền thống như Pop, Ballad, Bolero,…

Hiểu đơn giản thì nhạc remix là nhạc được phối khí lại, làm lại từ bản nhạc gốc sao cho phù hợp với mục đích của người nghệ sĩ, tạo ra một phiên bản mới hoàn hảo hơn. Thuật ngữ này không chỉ xuất hiện trong âm nhạc mà còn được sử dụng trong phim, văn học, thơ, video, nhiếp ảnh,… Khi phối lại, người ta thường chỉnh sửa về tốc độ, nhịp điệu, cường độ, cao độ, sự cân bằng, thời gian của bản nhạc và nhiều yếu tố khác để tạo ra giai điệu bắt tai, sôi động thích hợp với thị hiếu khán giả.

Ngoài ra, bản nhạc có thể làm lại hầu hết các thành phần âm nhạc, tùy vào người remix. Chính vì thế, các nghệ sĩ luôn tạo ra vô số các bản nhạc remix khác nhau, mỗi bài nhạc với mỗi người sẽ có cách cảm nhạc khác nhau.

Thay vì khán giả cứ nghe đi nhe lại một bản nhạc gốc, dù cho có khúc đó có thịnh hành như thế nào, cũng phải tạo vẻ nhàm chán, không còn thích thú như lúc đầu. Ngay lúc này, người Remix sẽ phối lại bài nhạc gốc, làm mới ca khúc, gây cảm xúc tò mò và tăng cảm xúc cho người nghe.

2. Nhạc remix có phải là tác phẩm phái sinh không?

Nhạc remix được coi là tác phẩm phái sinh từ ca khúc gốc. Theo Khoản 8 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ, tác phẩm phái sinh“là tác phẩm được sáng tạo trên cơ sở một hoặc nhiều tác phẩm đã có thông qua việc dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, phóng tác, biên soạn, chú giải, tuyển chọn, cải biên, chuyển thể nhạc và các chuyển thể khác”.

Một ca khúc remix là tác phẩm “phái sinh” từ ca khúc gốc nếu thỏa mãn các dấu hiệu sau:

  • Được hình thành dựa trên sự kế thừa từ một tác phẩm đã có;
  • Tác phẩm phái sinh không phải bản sao của tác phẩm gốc: pháp luật về quyền tác giả không bảo hộ nội dung ý tưởng mà chỉ bảo hộ hình thức thể hiện của ý tưởng, vậy nên, trong nhiều trường hợp, hình thức thể hiện của tác phẩm phái sinh phải khác biệt hoàn toàn hoặc khác biệt từng phần với hình thức thể hiện của tác phẩm gốc;
  • Có sự sáng tạo: sự sáng tạo của ca khúc remix thể hiện ở việc lựa chọn, sắp xếp nhịp điệu, thêm thắt những hiệu ứng âm thanh mới để thể hiện được nội dung ca khúc như trong tác phẩm gốc; nhạc remix do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng sự lao động trí tuệ của mình mà không sao chép của người khác;
  • Dấu ấn của tác phẩm gốc trong tác phẩm phái sinh: cho dù tác phẩm phái sinh được sáng tạo nguyên gốc nhưng vẫn phải đảm bảo có dấu ấn của tác phẩm gốc. Có nghĩa là khi nhận biết tác phẩm phái sinh thì công chúng phải liên tưởng đến tác phẩm gốc, sự liên tưởng này được thể hiện qua lời bài hát, giai điệu… của ca khúc gốc.

Tác giả tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ những nội dung có tính nguyên gốc do họ sáng tạo và tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để phái sinh. Việc tạo ra, khái thác, sử dụng tác phẩm phái sinh phải được sự cho phép của chủ sở hữu tác phẩm gốc.

Vậy, với câu hỏi nhạc remix có phải tác phẩm phái sinh không, thì câu trả lời ở đây là có thể, với điều kiện đáp ứng các dấu hiệu của tác phẩm phái sinh như đã trình bày ở bên trên.

3. Nhạc remix có được đăng ký bản quyền tác giả không?

Nhạc remix được bảo hộ quyền tác giả dưới dạng tác phẩm phái sinh khi đáp ứng 04 điều kiện sau:

  • Không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm gốc:

Theo khoản 2 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ, tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh.

  • Phải do tác giả làm tác phẩm phái sinh trực tiếp sáng tạo: Khoản 3 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ quy định tác phẩm phái sinh được bảo hộ phải do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác.
  • Được sự cho phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả tác phẩm gốc: Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ  quy định tác phẩm phái sinh phải được sự cho phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả tác phẩm gốc. Trong trường hợp không có sự đồng ý của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả sẽ bị xem là hành vi xâm phạm quyền tác giả (Trừ khi tác phẩm phái sinh thuộc các trường hợp tại Điều 25 và Điều 26 Luật Sở hữu trí tuệ).
  • Phải có dấu ấn riêng của tác giả tác phẩm phái sinh: Tác phẩm phái sinh là những tác phẩm được sáng tạo dựa trên tác phẩm gốc. Nên để tác phẩm phái sinh được bảo hộ thì phải có tính sách tạo, mới mẻ và mang dấu ấn của tác giả sáng tạo ra tác phẩm phái sinh đó.

Vậy, tác phẩm nhạc remix phải đáp ứng các điều kiện trên thì mới có thể được đăng ký bảo hộ quyền tác giả.

Trên đây là bài viết “Nhạc remix có được đăng ký bản quyền tác giả không?”. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

Âm nhạc phát triển theo cùng với chiều dài lịch sử của xã hội, đây là công cụ thể hiện chính xác những mong muốn, nhu cầu, tình cảm của con người. Theo pháp luật quy định thì tác phẩm âm nhạc cũng được bảo hộ quyền tác giả, nhưng các quy định về bảo hộ cụ thể như nào mời bạn đọc theo dõi bài viết dưới đây của VCD.

1. Hiểu tác phẩm âm nhạc là gì?

Tác phẩm âm nhạc là một trong những đối tượng được bảo hộ quyền tác giả và được quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ.

Định nghĩa tác phẩm âm nhạc được quy định tại Điều 10 Nghị định số 22/2018 ngày 23 tháng 2 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật SHTT 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Cụ thể: “Tác phẩm âm nhạc quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 14 của Luật sở hữu trí tuệ là tác phẩm được thể hiện dưới dạng nhạc nốt trong bản nhạc hoặc các ký tự âm nhạc khác hoặc được định hình trên bản ghi âm, ghi hình có hoặc không có lời, không phụ thuộc vào việc trình diễn hay không trình diễn”.

Tuy nhiên, theo quy định tại Khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ thì quyền tác giả sẽ được bảo hộ kể từ khi mà tác phẩm được sáng tạo ra và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định. Nghĩa là khi nào tác phẩm được tạo ra và con người có thể xác định được sự tồn tại của nó thì lúc này tác phẩm đó sẽ được bảo hộ dưới dạng quyền tác giả. Do đó, đối với tác phẩm âm nhạc cũng vậy, khi nhạc sĩ chỉ mới sáng tạo ra giai điệu trong suy nghĩ của nhạc sĩ lúc này tác phẩm âm nhạc này chưa được bảo hộ. Chỉ khi nào, người nhạc sĩ tiến hành việc thể hiện tác phẩm đó dưới dạng hình thức vật chất nhất định (viết giai điệu, nốt nhạc vào giấy, thể hiện trên máy tính,…) thì quyền tác giả của tác phẩm âm nhạc đó sẽ được phát sinh.

2. Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc có thể hiểu là việc Nhà nước ban hành các quy phạm pháp luật tạo cơ sở pháp lý cho việc xác lập, công nhận và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho các tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm âm nhạc do họ sáng tạo ra.

Trong đó, bao gồm các nội dung về xác lập, công nhân quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc, quản lý, sử dụng, khai thác quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc và bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc chống lại các hành vi xâm phạm.

3. Điều kiện để tác phẩm âm nhạc được bảo hộ quyền tác giả

3.1. Điều kiện về tác phẩm âm nhạc để được bảo hộ quyền tác giả

  • Phải là loại hình tác phẩm được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định

Nếu giai điệu chỉ hình thành trong tâm trí người nhạc sĩ thì đó chưa phải là tác phẩm âm nhạc được bảo hộ, chỉ khi bài hát đó được thể hiện dưới dạng nốt nhạc, chữ viết trên giấy, hoặc trên máy tính, khi đó tác phẩm âm nhạc mới có điều kiện được bảo hộ quyền tác giả.

  • Nội dung không trái đạo đức xã hội, trật tự công cộng, không gây hại cho quốc phòng, an ninh

Trong nội dung chính sách của Nhà nước về sở hữu trí tuệ theo quy định tại Khoản 1 Điều 8 Luật Sở hữu trí tuệ có quy định “Công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân trên cơ sở bảo đảm hài hoà lợi ích của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ với lợi ích công cộng; không bảo hộ các đối tượng sở hữu trí tuệ trái với đạo đức xã hội, trật tự công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh”.

3.2. Điều kiện của tác giả có tác phẩm âm nhạc được bảo hộ tại Việt Nam

  • Tác phẩm của tác giả là công dân Việt Nam;
  • Tác phẩm thuộc sở hữu của công dân, pháp nhân, tổ chức Việt Nam;
  • Tác phẩm của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định tại Việt Nam;
  • Tác phẩm của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài lần đầu tiên được công bố, phổ biến tại Việt Nam;
  • Tác phẩm của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài được bảo hộ tại Việt Nam theo điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia.

Vậy, khi đáp ứng được các điều kiện trên, thì tại thời điểm tác phẩm âm nhạc được thể hiện dưới dạng hình thức vật chất nhất định thì khi đó quyền tác giả của tác phẩm âm nhạc được phát sinh.

Trên thực tế, có không hiếm những trường hợp đạo nhạc hoặc sao chép lời bài hát nhưng chính tác giả cũng không xử lý được vì họ không chứng minh được quyền sở hữu của mình đối với tác phẩm âm nhạc này. Vì lý do đó, đăng ký bảo hộ quyền tác giả là một trong những cách tốt nhất để bảo vệ tác phẩm, là bằng chứng vững chắc để xử lý các hành vi xâm phạm, đồng thời tạo lợi thế cho chủ sở hữu trong việc truy thu tiền bản quyền đối với các tổ chức, cá nhân sử dụng trái phép tác phẩm âm nhạc của tác giả.

Trên đây là bài viết “Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc”. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,