Chuyển đến nội dung chính

Thẻ: bảo hộ quyền tác giả

Phân biệt giữa tác giả - chủ sở hữu quyền tác giả

Phân biệt giữa tác giả – chủ sở hữu quyền tác giả

Dưới góc độ của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, những người nắm giữ quyền tác giả bao gồm tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả. Vậy, hai đối tượng này có điểm gì khác biệt và tại sao lại phải phân chia như vậy? Bài viết này sẽ phân tích và làm rõ cho quý độc giả hiểu rõ hơn về hai chủ thể này.

1. Thế nào là tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả?

Về tác giả, Điều 12a Luật sở hữu trí tuệ đã nêu ra khái niệm như sau:

“Tác giả là người trực tiếp sáng tạo tác phẩm. Trường hợp có từ hai người trở lên cùng trực tiếp sáng tạo tác phẩm với chủ ý là sự đóng góp của họ được kết hợp thành một tổng thể hoàn chỉnh thì những người đó là các đồng tác giả.

Người hỗ trợ, góp ý kiến hoặc cung cấp tư liệu cho người khác sáng tạo tác phẩm không phải là tác giả, đồng tác giả.”

Về khái niệm chủ sở hữu quyền tác giả, Điều 36 Luật Sở hữu trí tuệ quy định: “Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ quyền quy định tại khoản 3 Điều 19 và khoản 1 Điều 20 của Luật này.”

Theo Luật Sở hữu trí tuệ, chủ sở hữu quyền tác giả có thể là:

  • Tác giả;
  • Các đồng tác giả;
  • Tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc giao kết hợp đồng với tác giả;
  • Người thừa kế quyền tác giả;
  • Người được chuyển giao quyền;
  • Nhà nước.

2. Phân biệt tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả

Tùy thuộc vào từng trường hợp, tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả có thể là một chủ thể hoặc là hai chủ thể riêng biệt.

  • Chủ sở hữu quyền tác giả đồng thời là tác giả: Đây là trường hợp tác giả trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và vừa sử dụng tài chính, cơ sở vật chất – kỹ thuật của mình trong quá trình thực hiện tác phẩm, do đó chủ thể vừa là tác giả, vừa là chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm. Khi đó, tác giả sẽ có đầy đủ cả quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tác phẩm. Nếu tác phẩm được tạo nên bởi nhiều tác giả thì các đồng tác giả là chủ sở hữu và có chung các quyền của chủ sở hữu đối với tác phẩm. Bên cạnh đó, trong trường hợp có nhiều đồng tác giả mà mỗi phần riêng biệt trong tác phẩm của một tác giả có thể tách ra sử dụng độc lập mà không làm phương hại đến phần của các đồng tác giả khác thì tác giả đó là chủ sở hữu đối với phần riêng biệt đó.
  • Chủ sở hữu quyền tác giả không đồng thời là tác giả một trong những trường hợp sau:
    • Chủ sở hữu là cá nhân, tổ chức giao kết hợp đồng hoặc giao nhiệm vụ cho tác giả tác phẩm. Khi tổ chức giao nhiệm vụ sáng tạo tác phẩm cho người thuộc tổ chức mình, thì người được giao nhiệm vụ đó là tác giả và tổ chức là chủ sở hữu quyền tác giả. Cá nhân, tổ chức giao kết hợp đồng với tác giả để tác giả sáng tạo ra tác phẩm thì cá nhân, tổ chức đó là chủ sở hữu quyền tác giả. Trên cơ sở sự đầu tư về tài chính, các điều kiện cơ sở vật chất – kỹ thuật khác cho hoạt động sáng tạo tác phẩm, các chủ thể này nắm giữ các quyền khai thác sử dụng về mặt tài sản đối với tác phẩm sau khi tác phẩm được hoàn thành. Các quyền nhân thân của tác giả vẫn thuộc về tác giả đã sáng tạo ra tác phẩm.
    • Chủ sở hữu là cá nhân, tổ chức được thừa kế về tài sản theo pháp luật về thừa kế. Tổ chức, cá nhân được thừa kế quyền tác giả là chủ sở hữu các quyền tài sản và quyền nhân thân được quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ.
    • Chủ sở hữu là cá nhân, tổ chức được chuyển giao quyền tác giả. Căn cứ để phát sinh quyền sở hữu quyền tác giả của người được chuyển giao quyền được xác định là thời gian có hiệu lực của hợp đồng chuyển giao quyền tác giả.
    • Chủ sở hữu là Nhà nước. Nhà nước sẽ là chủ thể được hưởng quyền sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm khi tác phẩm được sáng tạo do cơ quan sử dụng ngân sách nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ, đấu thầu; tác phẩm được chủ sở hữu quyền tác giả chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước; tác phẩm còn trong thời hạn bảo hộ mà chủ sở hữu quyền tác giả chết không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận di sản hoặc không được quyền hưởng di sản.

Trong trường hợp chủ sở hữu quyền tác giả không đồng thời là tác giả, tác giả sẽ nắm giữ quyền nhân thân bao gồm quyền đặt tên tác phẩm, đứng tên trên tác phẩm, bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm; chủ sở hữu sẽ nắm giữ các quyền tài sản và quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm. Tuy nhiên, đối với và quyền đặt tên cho tác phẩm (là một trong những quyền nhân thân của tác giả), tác giả có quyền chuyển quyền sử dụng quyền đặt tên tác phẩm cho tổ chức, cá nhân nhận chuyển giao quyền tài sản. Do đó, chủ sở hữu là cá nhân, tổ chức được chuyển giao quyền tác giả có thể nắm giữ cả quyền đặt tên tác phẩm ngoài những quyền tài sản khác.

Trên đây là bài viết “Phân biệt giữa tác giả – chủ sở hữu quyền tác giả”. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng!

Công thức nấu ăn có được bảo hộ quyền tác giả không?

Công thức nấu ăn có được bảo hộ quyền tác giả không?

Nghệ thuật ẩm thực ngày càng phát triển, các đầu bếp đã không ngừng sáng tạo, đầu tư nghiên cứu để cho ra đời những công thức nấu ăn mới, đặc sắc và có giá trị thương mại cao. Các thương hiệu ẩm thực hay những nhà hàng đều có những công thức đặc biệt của riêng mình mà chúng đóng vai trò không nhỏ quyết định sự thành công của nhà hàng đó. Vậy, liệu công thức nấu ăn có được bảo hộ quyền tác giả không?

1. Công thức nấu ăn là gì?

Công thức nấu ăn được hiểu là bản hướng dẫn cách chế biến một món ăn nhất định. Công thức nấu ăn bao gồm tên món ăn, thời gian thực hiện, các thành phẩn và số lượng nguyên liệu, tỉ lệ giữa các nguyên liệu, các thiết bị cần sử dụng, các bước thực hiện cùng các phương pháp chế biến từ sơ chế tới nấu và trình bày.

2. Công thức nấu ăn có được bảo hộ quyền tác giả không?

Theo Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, đối tượng bảo hộ quyền tác giả là các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học (theo Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ), bao gồm:

  • Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác;
  • Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác;
  • Tác phẩm báo chí;
  • Tác phẩm âm nhạc;
  • Tác phẩm sân khấu;
  • Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự (sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh);
  • Tác phẩm mỹ thuật, mỹ thuật ứng dụng;
  • Tác phẩm nhiếp ảnh;
  • Tác phẩm kiến trúc;
  • Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học;
  • Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian;
  • Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu.

Công thức nấu ăn không phải là một trong các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả được nêu trong Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam. Mặc dù công thức nấu ăn cũng mang tính mới, tính sáng tạo, song bản chất của nó lại là một quy trình, phương pháp thực hiện. Theo Điều 15 Luật Sở hữu trí tuệ, quy trình hay phương pháp hoạt động đều không được bảo hộ quyền tác giả. Do đó, bản thân công thức nấu ăn chưa được định hình dưới dạng vật chất nhất định thì không được bảo hộ quyền tác giả.

Tuy nhiên, khi công thức nấu ăn được định hình dưới dạng chữ viết, văn bản thì được bảo hộ quyền tác giả dưới dạng tác phẩm khác hoặc giáo trình hướng dẫn nấu ăn và được bảo hộ như bảo hộ tác phẩm văn học. Người sáng tạo ra công thức nấu ăn có thể viết công thức với nội dung mô tả quy trình thực hiện và toàn bộ các phương pháp, cách thức tạo nên món ăn. Người viết ra công thức nấu ăn chính là tác giả của tác phẩm và có đầy đủ quyền nhân thân, quyền tài sản đối với tác phẩm. Ví dụ, công thức nấu ăn được in thành sách, hoặc được trình bày trong một bài báo, tạp chí thì phần văn bản công thức nấu ăn đó được bảo hộ quyền tác giả. 

Việc đăng ký bảo hộ công thức nấu ăn dưới hình thức bảo hộ quyền tác giả ngăn chặn việc các cá nhân, tổ chức khác sửa chữa, sao chép, phân phối, truyền đạt tác phẩm đến công chúng, cho thuê hoặc làm tác phẩm phái sinh đối với công thức nấu ăn dưới dạng văn bản. Tuy nhiên, việc bảo hộ quyền tác giả là không tuyệt đối nếu như người sáng tạo ra công thức muốn giữ bí mật về công thức này. Bởi quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức thể hiện chứ không áp dụng đối với nội dung, ý tưởng của tác phẩm, người khác hoàn toàn được quyền tiếp cận, đọc công thức và làm được ra món ăn đúng như hướng dẫn.

Trong trường hợp người tạo nên công thức nấu ăn có ý định chia sẻ, hoặc mong muốn đạt được lợi ích kinh tế thông qua việc bán công thức nấu ăn dưới dạng văn bản, sách báo thì việc đăng ký bảo hộ quyền tác giả như trên là hoàn toàn hợp lý. Còn trong trường hợp người sáng tạo muốn giữ bí mật hoàn toàn công thức này vì mục đích kinh doanh, công thức nấu ăn phải được đảm bảo không bị bộc lộ và không dễ dàng tiếp cận được để được bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh. 

Vậy, công thức nấu ăn hoàn toàn có thể được bảo hộ quyền tác giả. Tuy nhiên, lựa chọn bảo hộ công thức nấu ăn dưới hình thức nào phụ thuộc vào mục đích, mong muốn của người sáng tạo nên nó.

Trên đây là bài viết “Công thức nấu ăn có được bảo hộ quyền tác giả không?”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Để biểu diễn các tác phẩm nghệ thuật, người biểu diễn có phải xin phép tác giả không?

Để biểu diễn các tác phẩm nghệ thuật, người biểu diễn có phải xin phép tác giả không?

Nghệ thuật là một phần không thể thiếu trong đời sống của con người. Các tác phẩm nghệ thuật âm nhạc và sân khấu thường được công chúng biết tới thông qua sự truyền tải của những người biểu diễn. Tuy nhiên, người biểu diễn không phải là người viết nên nội dung của tác phẩm mà chỉ là người thể hiện tác phẩm bằng những loại hình sân khấu khác nhau, bằng kỹ thuật, sự sáng tạo của cá nhân người biểu diễn đó. Nội dung của những buổi biểu diễn đó từ đâu mà có, không thể không nhắc đến công lao của các tác giả, người đã dành thời gian, công sức để sáng tạo nên những tác phẩm. Vậy, mối liên quan giữa người biểu diễn và tác giả như thế nào, trước khi biểu diễn một tác phẩm, người biểu diễn có cần phải xin phép tác giả hay không? Bài viết sau đây chúng tôi xin trình bày chi tiết về nội dung này.

1. Khái niệm về biểu diễn nghệ thuật và người biểu diễn

Các chương trình biểu diễn nghệ thuật từ những loại hình nghệ thuật truyền thống như chèo, tuồng, cải lương,…cho tới hiện đại như liveshow âm nhạc, các chương trình tạp kỹ,…đều không xa lạ với chúng ta hiện nay. Dưới góc độ luật pháp, theo Khoản 1, Khoản 2 Điều 2 Nghị định 79/2012/NĐ -CP, biểu diễn nghệ thuật được hiểu như sau:

“Biểu diễn nghệ thuật là trình diễn chương trình, tiết mục, vở diễn trực tiếp trước công chúng của người biểu diễn;” và

“Loại hình nghệ thuật biểu diễn bao gồm: Tuồng, chèo, cải lương, xiếc, múa rối, bài chòi, kịch nói, kịch dân ca, kịch câm, nhạc kịch, giao hưởng, ca, múa, nhạc, ngâm thơ, tấu hài, tạp kỹ và các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác.”

Về người biểu diễn, người biểu diễn là tên gọi chung của những diễn viên, ca sĩ, nhạc công, vũ công và những người khác trình bày tác phẩm văn học, nghệ thuật (Theo Khoản 1 Điều 16 Luật Sở hữu trí tuệ). Người biểu diễn là một trong những đối tượng được bảo hộ quyền liên quan theo quy định của pháp luật.

2. Để biểu diễn các tác phẩm nghệ thuật, người biểu diễn có phải xin phép tác giả không?

Quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng là một trong những quyền tài sản của tác giả, được quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 20 Luật sở hữu trí tuệ. Theo đó, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả là người nắm giữ quyền “biểu diễn tác phẩm trước công chúng trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các bản ghi âm, ghi hình hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào tại địa điểm mà công chúng có thể tiếp cận được nhưng công chúng không thể tự do lựa chọn thời gian và từng phần tác phẩm”.

Do tác giả là người nắm giữ quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng, những cá nhân, tổ chức muốn thực hiện biểu diễn tác phẩm phải xin phép tác giả và trả tiền bản quyền cho tác giả để được sử dụng quyền biểu diễn. Việc biểu diễn tác phẩm mà không xin phép tác giả, không trả tiền bản quyền cho tác giả là hành xâm vi phạm quyền tác giả theo Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ.

Tuy nhiên, có một trường hợp ngoại lệ mà người biểu diễn không cần phải xin phép cũng như không phải trả tiền bản quyền cho tác giả. Tại Điểm g Khoản 1 Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ quy định về các trường hợp ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả quy định “Biểu diễn tác phẩm sân khấu, âm nhạc, múa và các loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các buổi sinh hoạt văn hóa, hoạt động tuyên truyền cổ động không nhằm mục đích thương mại” đối với tác phẩm đã công bố thì không phải xin phép, không phải trả tiền bản quyền nhưng phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xử của tác phẩm. Ví dụ, việc biểu diễn tác phẩm tại buổi sinh hoạt tập thể tại trường học, khu dân cư, công ty không nhằm mục đích thương mại thì được phép biểu diễn mà không cần phải xin phép nhưng phải thông tin rõ ràng về tên tác giả và nguồn gốc tác phẩm.

Đối với hành vi xâm phạm quyền cho phép biểu diễn tác phẩm trước công chúng, Điều 13 Nghị định 131/2013/NĐ-CP đã quy định chế tài xử phạt hành chính như sau:

“Điều 13. Hành vi xâm phạm quyền cho phép biểu diễn tác phẩm trước công chúng

1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi biểu diễn trực tiếp tác phẩm trước công chúng mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả theo quy định.

2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi biểu diễn tác phẩm thông qua các chương trình ghi âm, ghi hình hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả theo quy định.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc dỡ bỏ bản sao bản ghi âm, ghi hình vi phạm đối với hành vi quy định tại Khoản 2 Điều này.”

Trên đây là mức phạt hành chính đối với cá nhân, nếu tổ chức có hành vi vi phạm tương tự thì tổ chức vi phạm sẽ bị phạt gấp đôi cá nhân.

Trên đây là bài viết “Để biểu diễn các tác phẩm nghệ thuật, người biểu diễn có phải xin phép tác giả không?”. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,